Tìm về nguồn gốc hát xẩm

Đến với nơi bến đò xóm chợ vào một buổi chiều tàn, nhóm người đủ cả già trẻ lớn bé đứng ngồi quanh một ông lão mù đang vừa đàn vừa hát những điệu ủ ê. Giai điệu ấy, lời ca ấy có gì mà thu hút người người thưởng thức, nếu không phải họ đang được nghe hát về chính họ…

Giống như một chương trình “ca nhạc theo yêu cầu” đầy tính lưu động, bạn muốn nghe gì thì Xẩm sẽ hát cho bạn nghe cái đấy. Chuyện những anh hùng dân tộc, chuyện thói hư tật xấu thường ngày, chuyện tình cảm lứa đôi,… Xẩm hấp dẫn với dân gian một phần vì tính “thị hiếu” của nó. Những câu chuyện của Xẩm khiến ai ai cũng có thể đồng cảm. Có những đứa trẻ đã đi theo ông Xẩm, bác Xẩm suốt cả chặng đường chỉ để nghe thêm nữa vì nghe hoài mà không chán.

Nghệ nhân Hà Thị Cầu hát xẩm bên các bạn nhỏ

Hát xẩm, một loại hình âm nhạc dân gian được cho là khởi phát từ thế kỉ 14, đã dần trở thành một nét đẹp truyền thống thú vị trong kho tàng văn hóa của dân tộc. Xẩm ban đầu được hát vào mùa Xuân, gắn với những mùa vụ nông nhàn, sau được sử dụng như một phương tiện kiếm sống chủ yếu của những người khiếm thị. Cứ nghĩ tự phát là như vậy, nhưng xẩm cũng có Tổ nghề hẳn hoi.

Đi tìm huyền tích nghề xẩm

Xẩm trong cái nhìn của nhiều người thường gắn với hình ảnh một người nghệ sĩ mù nghèo khổ, có phần giống người hành khất. Nhưng huyền tích về vị Tổ nghề xẩm lại cho thấy loại hình này có một gốc gác không hề tầm thường.

Đời nhà Trần, vua cha có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Người em Trần Quốc Đĩnh đã bị anh hãm hại hỏng hai con mắt bỏ lại chốn rừng sâu, hòng cướp công trong một chuyến đi săn giành viên ngọc quý về dâng vua cha. Trong cơn bĩ cực khốn cùng, với cặp mắt mù lòa, hoàng tử Đĩnh lần mò, nhặt được hai mảnh tre khô, gõ vào nhau giả tiếng chim chóc để chúng tha thức ăn đến cho chàng cầm hơi, rồi quờ quạng được sợi dây rừng, buộc vào cây song mây hình cánh cung để làm đàn. Lần mò được mẩu que tre, ôm cây đàn một dây để gẩy lên những cung bậc thăng trầm, chàng bắt đầu ngân nga những khúc nhạc lòng tự sự, ai oán.

Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa chàng về. Trần Quốc Đĩnh tiếp tục hát và dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của chàng lan đến tận hoàng cung, vua mời chàng vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm.

Hát Xẩm ở Hải Phòng thời Pháp thuộc

Huyền tích về Tổ nghề xẩm được ghi nhớ và truyền từ đời này sang đời khác, tuy cũng có dị bản nhưng nhìn chung đều giống nhau ở các điểm: xuất thân của Thánh Tổ, lí do Tổ bị mù mắt, xuất xứ cây đàn xẩm (đàn song, đàn bầu), ngọc chữa sáng mắt,…

Dù vậy, trong chính sử thì vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán. Thái tử con vua Thánh Tông tên là Khảm, sau lên ngôi là vua Nhân Tông; một người con nữa là Tả Thiên vương, vị này theo sử chép cũng có cốt cách tốt.

Vì vậy nguồn gốc hát xẩm là dựa trên huyền tích, nhưng cũng một phần phản ánh tâm tư và mong muốn của người nghệ sĩ xẩm.

Đó là một nghề gắn liền với những người khiếm thị. Từ xa xưa, khi hát xẩm vẫn còn nguyên vai trò xã hội của nó, người sáng mắt hiếm khi hát xẩm độc lập, họ chủ yếu đi theo trợ giúp trong nhóm xẩm (thường là vợ, chồng, con cái của người hát). Một tinh thần nữa của nghề xẩm thể hiện trong truyền thuyết là tinh thần sống kiên cường, vượt qua những khó khăn trở ngại để vẫn giữ thái độ lạc quan, ham sống. Điều này không chỉ phản ánh qua quá trình vị hoàng tử trở lại hoàng cung từ rừng sâu mà cũng thể hiện trong thực tế: Những nghệ sĩ xẩm khiếm thị luôn cần mẫn đi khắp nơi mang tiếng hát cho đời, đưa những lời ca và triết lý nhân sinh chạm đến tâm hồn người nghe.

Tác phẩm tranh kính “Vợ chồng Xẩm” (Nguồn: Vinhcoba)

Về nguồn gốc, một số nghiên cứu cho rằng xẩm là “người anh em” với chèo, khi cả hai đều có những nét cho thấy dấu vết từ loại hình “hát nói” sơ khai của dân tộc ta từ cổ đại. Nghệ nhân xẩm cũng tự xếp xẩm vào loại “trung ca” cùng với chèo, đặt bên cạnh tuồng là “võ ca” còn ca trù là “văn ca”. Gọi là “trung ca” có thể vì nội dung nhắc nhiều đến lòng trung thực, hiếu nghĩa, hoặc vì sắc thái biểu diễn không quá mạnh mẽ hay hàn lâm, mà chú trọng vào dung hòa với năng khiếu của người hát.

Tia sáng cuối ngày dành cho xẩm

Xa xưa, mỗi năm đến ngày giỗ tổ, dân xẩm lại gọi nhau tụ họp về một nơi để tổ chức nghi lễ giỗ, “báo cáo tình hình”, giải quyết những mâu thuẫn (nếu có) trong hoạt động hội nhóm, hỗ trợ nhóm nào quá nghèo hoặc mới vào nghề, bầu ông trùm (hay trưởng, là người đứng đầu trực tiếp điều hành hoạt động của làng xẩm, hội xẩm)… Lễ giỗ có thể tổ chức từ 1–3 ngày, tùy tình hình năm đó no đủ hay đói kém. Một trong những nghi lễ quan trọng nhất của lễ giỗ là hát thờ, không chỉ thể hiện lòng thành với Thánh tổ, mà cũng là dịp để các xẩm học hỏi lẫn nhau, nâng cao trình độ nghề nghiệp.

Ông trùm Nguyên ở làng xẩm Hà Nội, hoạt động khoảng những năm nửa đầu thập niên 50, là trùm xẩm cuối cùng. Ông cũng là người sáng tạo ra loại hình xẩm Nhà tơ, xẩm nhưng chuyên hát trong nhà, thường được coi là “cao sang” hơn các loại xẩm còn lại, lời thường là thơ của các nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính…

Sau một giai đoạn dài bị gián đoạn, vào năm 2005, Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam đã tổ chức tái hiện lần đầu tiên Lễ giỗ tổ nghề tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, đánh dấu sự trở lại thường niên của sinh hoạt lễ nghi thiêng liêng trong nghề hát xẩm.

Năm 2017, “đến hẹn lại lên”, lễ giỗ Tổ nghề hát xẩm lại được tổ chức ở một số địa phương như Hà Nội, Hải Phòng để tưởng nhớ, tri ân Tổ nghề và những bậc tiền nhân đã có công khai sáng và bảo tồn, phát huy loại hình nghệ thuật dân tộc này.

Xẩm đã vĩnh viễn khép lại sự tồn tại nguyên thủy của nó như một loại hình xướng ca để mưu sinh, đặc biệt là khi nghệ nhân Hà Thị Cầu, “nhân chứng sống” cuối cùng cũng không còn. Hành trình để xẩm quay lại và giành được sự quan tâm của công chúng vẫn còn nhiều bước phải đi, nhưng đồng thời cũng mở ra nhiều hướng phát triển mới, hứa hẹn sẽ đem đến cho xẩm nói riêng và các loại hình âm nhạc truyền thống nói chung những vai trò mới trong xã hội hiện đại.

Mời bạn cùng Chèo 48h thưởng thức điệu Xẩm tàu điện — xuất hiện ở Hà Nội những năm cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20.

Phương Anh (t/h)/Chèo48h