Ba Mươi Năm Tranh Ðấu Cho Tự Do Việt Nam. Nhìn Lại Qúa Khứ- Hướng Về Tương Lai

Sau Ngày Bất Hạnh Ðó

Ðó là ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Ngày mà toàn dân Miền Nam Việt Nam bị bọn Cộng Sản Miền Bắc dìm sâu xuống địa ngục trần gian. Nhiều người đã bỏ nhà, bỏ của cải ra đi trước ngày định mạng quái đảm đó. Và đó cũng là ngày khóc cả nước, nhưng khóc thầm, vì nếu khóc lớn Công An Việt Cộng biết là đi tù!

Nói thì không còn tự do nói, cho đến khóc mà cũng không còn tự do khóc nữa! Những người đã gặp quá nhiều áp lực đã phải tự tử, kết liểu cuộc đời quá nhiều bất hạnh. nhiều chuyện quái đản khác mà bạo quyền Việt Cộng lúc đó ra lịnh “ Khi tang gia có người mầt mà khóc thì phải đóng tiền phạt “là tiền ngu”. Sống bi bắt nạt, chết cũng không yên thân! Cuộc đời bình thường là khi sống có cái ăn, cái mặc, có cái nhà hay cái chòi để ở, và khi chết có cái hòm và nấm mộ. Cuộc đời đó không có đưọc ở chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Ðúng, Sài gòn bây giờ đã đổi chủ, có chủ mới, ông chủ mới tham lam và vô tâm. Thực sự bây giờ chủ là Trung Cộng và Liên Sô. Nhưng những nhân vật lảnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là tay sai bản xứ mà thôi.

Tay sai bản xứ thì luôn luôn khắc nghiệt. Chúng tịch thu tất cả để dâng cho “chủ lớn”, và còn kiếm thêm cơm cháo cho riêng mình nữa. Những cảnh tượng khắc nghiệt và quái đản từ xưa chưa bao giờ có ở chế độ Thưc Dân, Phong Kiến hay các chế độ nào khác trên thế giới nầy. Chỉ có đảng và bạo quyền Cộng Sản Việt Nam áp dụng mà thôi. Bọn nó ra lệnh mượn nhà, mượn đất, mượn xe, mượn tất cả những gì mà người dân miền Nam có. Chữ mượn có nghĩa là “ Tịch thâu “. Họ vào thay chủ vào khoảng 15 ngày sau đó, ra lệnh quân lính của nguỵ trước kia phải ra trình diện. Lính thì đi học tập 3 ngày! Còn sĩ quan cấp úy trở lên phải đi học 10 ngày! Các Sĩ Quan đi học tập 10 ngày đó, phải mang theo lương thực của mình trong 10 ngày. nhưng rồi có người kéo dài cả 18 năm trong lao tù khổ sai. Nói về các sĩ quan đi học tập thật bi đát. Tôi không biết gì về ngục tù cải tạo cả, chỉ xem qua cuốn bút ký của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, có tựa đề là “ Tôi Phải Sống” thì ta biết rõ như thế nào!

Trở lại tôi còn nhớ vào khoảng tháng 9 năm 1975, có tin đồn sắp đổi tiền. Dân chúng hoang mang và xôn xao. Bạo quyền Việt Cộng bảo cần trấn an dân chúng, họ kêu loa qua các phường xả rằng Nhà Nước ta không có đổi tiền. Họ gọi loa ra rả cả ngày và suốt đêm bảo là “ Ðừng nghe tin đồn thất thiệt của bọn phản động của Mỹ Nguỵ”. Ấy thế mà qua ngày sau đó, chiều tối ra lịnh giới nghiêm. Sáng ngày sau đổi tiền liền. Ðó là Cộng Sản nói láo với dân một lần nữa! Lịnh đổi tiền có giới hạn, mỗi nhà được đổi 200 đồng tiền mới. Cứ năm trăm đồng tiền củ đổi lấy một đồng tiền mới! Còn lại bao nhiêu phải gửi vào Ngân Hàng Nhà Nước. Sau khi đổi tiền có nhiều nhà phải tự tử mà chết! Nhiều người chết vì chiến dịch đổi tiền. Tôi có biết ông chủ nhà hàng Ðồng Khánh ở Chợ Lớn ôm bao bạc trên lầu cao nhảy xuống tự tử! Nhưng nhờ té xuống trên bao bạc lớn bị bể tung tóe ra đường mà ông không chết, chỉ bị gảy chân mà thôi! Sau khi đổi tiền thì có lịnh Kiểm Kê Tài Sản của những nhà thương buôn gọi là Tư Sản Mại Bản! Thành Phần Tư Sản Mại Bản là những thương buôn xuất nhập cảng và các nhà buôn bán lớn nhỏ. Thoạt đầu chúng ra lịnh kêu gọi Thanh Niên Xung Phong từ 18 đến 25 tuổi, có nơi đến 30 tuổi. Tình nguyện, phải gia nhập vào hàng ngủ Thanh Niên Xung Phong. Thành phần nầy gồm Thanh Niên, sinh Viên các trường Ðại Học, rồi đoàn ngủ hóa, nam theo nam, nữ theo nữ! Học tập 15 ngày, đổi đi theo lịnh trên! Nghĩa là thay đổi địa phương, Nam ra Bắc, Bắc vào Nam! Tổ chức xong xuôi, ra lịnh giới nghiêm, ban hành ai ở nhà nấy! Và các lực lượng ập vào nhà các gia đình và cơ sở kinh doanh gọi là Tư Sản Mại Bản! Lịnh Kiểm Kê Tài Sản! Thì ra mới biết Thanh Niên Xung Phong được tập luyện để đi kiểm kê tài sản của những nhà gọi là Tư Sản Mại Bản. Lực lượng họ chia ra từng toán, Một cán bộ có võ trang, nghĩa là có mang súng lục và năm bảy thanh niên xung phong, bên ngoài có bộ đội bao vây, vì lịnh giới nghiêm vô hạn định nên không ai biết được sự việc gì đã xảy ra. Kể cả bên cạnh nhà tôi, có bà ba Tàu bán phụ tùng xe gắn máy, bị kiểm kê mà tôi chẳng hay biết gì. Qua ngày sau, mình cũng chẳng biết còn giới nghiêm hay không, chỉ thấy người ta bắt đầu đi đi lại lại mình cũng bắt chước đi lại và hỏi xem! Chẳng ai nói với ai. Lịnh giới nghiêm thì có nhưng không có lịnh xả giới nghiêm như hồi trước! Chế độ Cộng Sản nầy coi người dân không ra gì! Cách ngày sau, tôi mới gặp lại bà ba Tàu bên cạnh, chào hỏi bà thì thấy bà buồn mà không nói năng chi cả! Mình cũng chẳng biết chuyện gì xảy ra trong ngày kiểm kê. Sau nầy mới biết được là đoàn kiểm kê vào nhà bà; kiểm kê tất cả phụ tùng xe gắn máy và tài sản của bà. Rồi bắt bà giữ một tờ Biên Bản và ra lịnh không làm mất một món nào trong tờ khai nầy, nếu sai, thì phải chịu trách nhiệm trước Pháp Luật.

Cách tuần lể sau, chiều hôm đó lại ra lịnh giới nghiêm nữa. Ðến đêm cả xóm thấy từng đoàn xe đò, và xe chở hàng rần rần tiến vào xóm và cũng bộ đội, cán bộ mang súng và đoàn thanh niên xung phong ồ ạt tiến vào trong xóm như hôm trước! Tôi nhìn ra khe cửa, thấy họ khuân cần xé chất những vật liệu phụ tùng lên xe hàng rồi đến bàn ghế tủ giường trong nhà. Sau cùng, người bị lùa lên xe đò. Ðàn ông bị còng tay, Sáng ngày sau mới biết giới nghiêm kỳ nầy là hốt tài sản và trục xuất những thành phần tư sản mại bản đi đày gọi là đi Kinh Tế Mới! Thật hú hồn cho những hộ không thuộc diện Tư Sản Mại Bản! Nhưng chưa hết lo sợ cho những người dân như chúng tôi. Ðó là trường hợp của bà ba Tàu bán đồ phụ tùng xe gắn máy bên cạnh nhà tôi. Còn như những nhà tư sản và xuất nhập cảng lớn, bán phụ tùng xe hơi và những xí nghiệp lớn còn khác nữa! Họ hành hạ những nhà giàu có khác hơn. Bắt bớ vợ chồng cách ly, khảo tra, hoặc con cái ra riêng để điều tra tài sản để ở đâu? Cán bộ điều tra bịa đặt chồng, hoặc vợ hay con họ đã nói sự thật! Thật là khủng khiếp, địa ngục trần gian của kiếp người ở chế độ Cộng Sản.Từ một xã hội an lành ở Miền Nam Việt Nam nay trở thành xã hội Cộng Sản. Sự áp bức luôn luôn đè lên người dân Miền Nam, ám ảnh bị khủng bố và tù đày tất cả mọi giới. Sự kinh hoàng ấy chưa nguôi, cách tuần lễ sau, bà ba Tàu ở cạnh nhà tôi bị tịch thâu tài sản tuần lễ trước và đày đi biệt mất không ai hay biết chuyện gì đã xảy ra và đày đi đâu!? . Vào khoảng trưa hôm đó, gia đình tôi thật bất ngờ, nhìn thấy bà ba Tàu bên cạnh đến trước nhà chúng tôi và xin vào nhà tôi để nghỉ mệt! Chúng tôi dìu bà vào nhà để bà ngồi nghỉ và rót nước cho bà uống. Thấy sắc mặt bà gầy ốm, thểu nảo không còn như xưa. Giây lát sau, nghỉ khoẻ xong, bà kể lại, từ bữa đó, họ đến tịch thâu tài sản, chở toàn thể gia đình bà đi trong đêm đó, bà không biết đi đâu? Vì cả đời bà từ trước chưa bao giờ bà biết vùng đó! Vùng đó là nơi đồng mông hiu quạnh! Toàn là rừng đưng và lát mọc cao khỏi đầu người! Ðoàn xe chở họ đổ xuống, trên một cánh đồng hoang xa không gần nhà dân! Mà dân ở vùng nầy rất thưa thớt! Thoạt tiên có một lớp người gọi là Cán Bộ Nhà Nước, họ lấy bàn ghế tủ giường của những người bị kiểm kê tài sản mà họ cho là tài sản những người Tư Sản Mại Bản còn được dùng cho cá nhân. Họ đặt bàn và những cán bộ địa phương làm việc. Họ ra lịnh, các tư trang và đồ quý cá nhân: như bông tai , cà rá nhẫn vàng, kê khai từ người và gọi là gửi nhà nước giữ dùm để rảnh tay tránh sự cướp bóc giữa đồng bào với nhau trong lúc tự tìm sinh kế mới. Sự kêu gọi cảnh giác của Cán Bộ Nhà Nước tựa hồ như cưởng bách và dọa nạt. Ðoàn người riu ríu làm theo, còn bao nhiêu trút ra hết trong tờ biên bản. Kế đó, họ đem một đoàn ghe tắc rán, loại ghe tam bản dài khoảng mười thước, bảy tấc rưởi bề ngang có gắn máy đuôi tôm. Họ ra lịnh,mỗi hộ cử một người mạnh dạn, nam hay nữ, đi nhận địa điểm định cư nơi làng Kinh Tế Mới! Ai ai cũng tưởng nhà nước lập Khu Kinh Tế Mới xong đâu đấy, cũng giành nhau đi tiên phong để chọn địa điểm tốt. Khởi hành đi từ sáng đến quá trưa, đoàn ghe trở về. Và những người đi nhận địa điểm lên bờ họ bàn soạn lại với gia đình không chịu đi Kinh Tế Mới vì quá nguy hiểm!? Ðoạn họ tự động ồn ào dấy lên làm loạn, và đòi lại tài sản tư trang vừa mới gửi cho cán bộ địa phương đặt bàn thu nhận ngày trước! Ho đòi đi trở về thành phố! Họ thề chết sống với lịnh cưởng bách đi Kinh Tế Mới lối nầy. Họ nói rằng “ Nhà nước đem giết chúng tôi trong rừng sâu nước độc!” Và “ Nơi họ chọn cho chúng tôi là địa điểm mật khu trước kia, nơi mà đưng và lát cao ngập khỏi đầu. Có vài ba cái lều đã dựng lên, vài ba cây đước làm sườn và lợp lên đưng hoặc lát để che mưa nắng dưới thời du kích còn ở trong bưng” Bây giờ thì nước ngập đến đầu gối, trên sàn nhà thì rắn đủ loại quấn quanh! Thật khủng khiếp và rùn rợn! Cộng Sản giết dân theo kiểu nầy mà không ai biết sự độc ác của họ, kể cả quốc tế! Nhóm người bất hạnh nầy dấy loạn ở bãi đất trống, nơi họ mới tới. Họ lớn tiếng đòi tài sản bị trấn lột hôm trước. cán bộ gọi là để “ cất dùm”. Nhóm cán bộ thấy sự phẩn nộ quyết liệt của đồng bào, nên sợ hải, bèn co giò chạy trốn và nói:lại “ Toán giữ tài sản của dân là toán khác không phải chúng tôi”! Cộng Sản cướp của dân trắng trợn một lần nữa! Ðến khi nhìn quanh không thấy bóng dáng cán bộ đâu nữa, đám người xấu số tự động tìm đường về thành. Có những người đói khát, không đủ sức phải chết trên đường về! Ða số, họ nhờ người dân địa phương giúp đỡ và lần hồi trở về thành! Bà ba Tàu bên nhà tôi kể lại. Chỗ đó tôi nghĩ ra rằng Năm Căn, Cà Mau! Giờ nầy Cộng Sản trả thù dân bằng cách lùa dân vào đó! Số người còn lại trở về thành, sống không nơi nương tựa, lớp ở vỉa hè, che giấy carton làm nhà, lớp ở dạ cầu! Xem như đàn thù hoang, ngày đi kiếm ăn, tối về khoanh trong xó góc! Ðó là lớp người Tư Sản giàu có tôi biết trước kia nay ra nông nỗi nầy! Còn bao nhiêu thành phần Tư Sản Mại Bản khác bị đưa đi vùng kinh tế mới nơi khác như thế nào, sống chết ra sao? Nào ai biết được? Còn những thường dân không có tài sản như gia đình tôi, một vợ ba con thì sao? Cũng chẳng yên thân. Thoạt đầu họ gọi chúng tôi đi lao động thuỷ lợi của nhà nước đề ra. Mỗi người đi làm nghĩa vụ một tuần 3 ngày! Sau rồi lên 5 ngày! Cứ tháng nầy qua tháng khác riết rồi không ai còn sức mà làm nghĩa vụ! Lương thực phải tự túc, nhà nước không có tiêu chuẩn. Gia đình vợ con không còn cách nào để sống. Hàng ngày quần áo trong tủ phải tuôn ra bán cho hết, lấy tiền sống qua ngày! Tủ thường, tủ thờ cũng bán sạch! Chịu không nỗi chúng tôi phải tìm đường vượt biên! Ðám cán bộ Cộng Sản gọi Gia đình chúng tôi là dân nguỵ sống ở Miền Nam. Chúng tôi không có thân nhân cách mạng hay bà con ở Miền Bắc, không có tiêu chuẩn hộ khẩu. Làm sao sống được. Công An Khu Vực gọi lên phường điều tra và nghi tôi là Sĩ Quan trốn học tập Cải Tạo! Nhưng mai mà tôi còn giữ tờ giấy Miển Dịch Vì Lý Do Gia Cảnh có ghi rõ “ Con Một Có Cha Mẹ Già Trong Gia Ðình” do Ðại Tá tỉnh trưởng Gia Ðịnh là Châu văn Tiên cấp, năm 1973. Tôi trình giấy đó cho Công An nên mới được yên thân! Nhưng cuộc sống căng thẳng vô cùng! Cứ vài hôm là Công An gọi lên phường “ làm việc”. Bị khủng bố tinh thần quá độ. Mãi đến tháng 9 năm 1979 gia đình tôi tìm đường vượt biên!

Lần nầy ra khơi với 36 bạn bè, hơn một ngày thì bị đoàn ghe đánh cá Quốc Doanh bắt lại, giải về Vủng Tàu giam tại trại gia binh của lính Việt Nam Cộng Hòa củ. Khoảng một tháng, bọn Quản Giáo bắt chúng tôi đi lao động và chửi rủa chúng tôi thậm tệ. Nào là bọn bây là bọn bất hảo đầu trộm đuôi cướp, tìm đường vượt biên vì không chịu sống dưới chế độ lành mạnh xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chúng bây là bọn đỉ điếm thích sống liếm gót giày phản động của Mỹ Nguỵ! Bọn bây ra nước ngoài cũng chỉ làm tôi tớ của chúng mà thôi! Trong thời gian trong tù, tôi có quen bạn tù cũng bị bắt như tôi là chú hai Lưu. Tôi và chú hàng ngày chơi cờ tướng và tâm sự trò chuyện và hỏi thăm hoàn cảnh vươt biên. Chú hai Lưu có hứa sau nầy chúng mình ra tù, sẽ gặp nhau và tìm đường đi nữa!

Gia đình chúng tôi được thả ra trước. Chú hai Lưu còn ở lại! Nhà cửa chúng tôi bị tịch thu sau khi chúng tôi bỏ đi vượt biên! Do đó, hoàn cảnh hết sức bi đát: không nơi nương tựa. Nhờ có chị và mẹ tôi ở trong Nhà Thờ Huyện Sĩ nên chúng tôi tá túc và trọ ở đó. Ngày ngày, vợ chồng tôi túa ra chợ mua tảo bán tần! Ðêm đến rút về nhà thờ ngủ trọ! Cứ thế ngày qua ngày, tương lai không có. Có lúc chúng tôi nghĩ quẩn, làm sao kiếm vài cây vàng để gửi cho hai đứa con trai còn lại, đứa 16, đứa 20, đi vượt biên với người bạn. Lúc bấy giờ chúng tôi thì vô phương không tài nào đi được nữa! Vì sự nghiệp tiêu tan, nhà cửa mất hết! Nếu để hai đứa con trai ở lại thì làm mồi cho Cộng Sản đi nghĩa vụ. Ðứa con gái lớn đã đi vượt biên với bạn nó, và đã đến bến bờ bình yên. Chúng tôi cũng mừng con gái chúng tôi thoát khỏi chế độ Cộng Sản. Ngày ngày chúng tôi đi kiếm ăn ngoài chợ. Ðêm về, chúng tôi nghĩ lại cuộc sống không có tương lai, bi đát quá, nhứt là hai đứa con trai tôi! Tương lai rất mù mịt! Hàng đêm chúng tôi cầu khẩn sao cho thoát khỏi ách Cộng Sản, nhứt là hai đứa con trai của chúng tôi! Nếu các con tôi ra đi má chẳng may chết dưới biển cả chúng tôi cũng yên lòng hơn là sống với chế độ Cộng Sản.

Ngày tháng trôi qua, vào đầu tháng tư, bữa đó, khoảng 9 giờ sáng, chú hai Lưu, bạn tù ở Vủng Tàu, vì cuộc sống quá vất vả, tôi đã quên, nay chú Lưu tìm đến hỏi chuyện vượt biên của tôi mà trong tù tôi đã kể cho chú nghe. Chú nói chú tìm tôi để bàn chuyện vượt biên. Chú đã tìm được ghe và tiền để vượt biên lần nữa. Chú cho biết cộng tác với chú gia đình chúng tôi sẽ không phải đóng tiền, nhưng với điều kiện phải cho chú mượn họa đồ đường đi để chú nghiên cứu trước! Xong hợp tác với chú và sau đó khởi hành!

Chú hẹn mượn họa đồ sau 3 ngày sẽ trả lại. Tôi rất phân vân và suy nghĩ, nếu mình đưa trước chú Lưu xấu bụng, chú đi mất thì sao? Suy nghĩ hồi lâu, nhưng mình muốn đi quá, phần vì căm hờn Cộng Sản nên đành đưa họa đồ cho chú hai Lưu mà lòng không yên. Chú hai Lưu lấy họa đồ đi rồi, ngày đêm chúng tôi lo âu. Sự lo lắng ngày đêm của chúng tôi làm chúng tôi rất đau khổ, nhứt là sau 3 ngày chú không trở lại. Rồi thì 4 ngày cũng chẳng thấy chú đâu! Ngày thứ năm sáng cũng không thấy bóng dáng chú đến. Khoảng 3 giờ chiều ngày ấy mới thấy chú xuất hiện! Gặp lại chú lúc đó, lòng tôi rất vui mừng còn hơn gặp lại ông bà mình chết đã lâu mà sống lại vậy! Chú hai Lưu gặp lại chúng tôi và trả lại họa đồ. Chú bảo, “ Bây giờ không còn thời gian nữa, nên anh phải làm việc với tôi gắp trong vờng một tuần lễ mà thôi. Và lên đường”. Chú than phiền “Theo họa đồ chỉ dẫn của anh, đi đến đâu cũng gặp du kích xã địa phương, làm sao mà đi được?” Vì vậy mà chú phải trở lại và cộng tác với tôi!

Trong tuần cộng tác với chú hai Lưu, tôi vất vả vô cùng, phải vận động nhiều “Taxi”, tiếng lóng gọi người chèo xuồng nhỏ từ Vàm Láng, Gò Công đến sông Cầu Ông Lảnh, Cầu Muối. Thời đó, phương tiện trên sông là một ghe lớn có gắn máy kéo theo những ghe xuồng nhỏ có khi đến sáu bảy chục chiếc! Sinh hoạt hàng ngày như vậy áp dụng cho người dân dưới chế độ Cộng Sản thời đó. Tôi lợi dụng hoàn cảnh đó, móc nối với những người chèo xuồng và ém người xuống xuồng từ các bến ghe Cầu Ông Lảnh, Cầu Muối. Nhờ vậy mà đi thoát và qua mắt các du kích xã địa phương!

Ngày khởi hành là ngày 26 tháng 4 năm 1980. Sáng 8 giờ tôi dẫn người và ém vào xuồng nhỏ. Ðến 3 giờ chiều là xong. Tát cả 65 người! Ghe máy lớn kéo xuồng khởi hành từ 4 giờ chiều mải đến 11 giờ đêm mới tới Vàm Láng Gò Công! Chiếc ghe mẹ là chiếc ghe cà dom, loại ghe chở lúa ở miền Tây, không phải là ghe đi biển, ghe có chiều dài 10 thước, chiều ngang 2, 70. Một máy Nhựt Kubota một block 10 mã lực, chạy dầu cặn đậu sẵn ở Vàm Láng, Gò Công! Sau khi bốc người lên ghe lớn, đến 12 giờ đêm mới xong! Từ đó, ghe lớn nổ máy ra khơi. Ghe chạy suốt đêm đến sáng thì ghe chạy khỏi Côn Sơn hướng về biển Ðông!

Chú hai Lưu là chủ ghe. Chú là ngư phủ chuyên nghiệp hành nghề từ hồi 17 tuổi đến bây giờ, chú đã 47 tuổi đời, nên nghề đi biển là nghề của chú! Chẳng cần la bàn như những tài công khác! Ban ngày xem mặt trời, ban đêm thì xem trăng sao! Nên chú không cần dùng ghe đi biển mùa nầy mà dùng ghe cà dom! Chú ký hợp đồng với Nhà Nước vận chuyển đường sông tránh sự dòm ngó của Công An thời đó. Vì ông bà ta có câu “ Tháng Ba Bà Già Ði Biển”. Thật vậy, buổi sáng đó, ánh bình minh ló dạng, mặt trời lên, mặt biển phẳng lặng như mặt gương! Ðến nổi ta thấy mấy con rắn biển nằm khoanh, ngủ trên mặt biển, rất đẹp mắt! Ghe chạy với máy dầu cặn Kubota một block, 10 mã lực bị quá tải, khoảng 107 người trên ghe nên ghe chạy rất chậm. Hai ngày sau, bôm nước giải nhiệt bi hư. Chú hai Lưu nghĩ kế động viên thanh niên trai tráng. Cứ hai tiếng, một tốp hai người thay phiên múc nước biển đổ vào máy và xả ra! Cứ thế mà rán chạy đến sáng ngày 30 tháng 4, 1980 lúc 9 giờ một máy bay hai động cơ cánh quạt sơn màu cờ Thái Lan quần quanh ghe vượt biên chúng tôi! Thấy vậy, chúng tôi quấn vải áo vào cây thấm dầu cặn, đốt lên làm dấu hiệu SOS! Trên máy bay thả xuống mặt biển một cái hộp bọc mớp trắng. Chúng tôi vớt lên và mở hộp mớp ra xem. Thì thấy cái máy truyền tin. Trên thân máy có dán giấy, trên có in hai hàng chũ Anh và Việt. Nội dung nói rằng” Các bạn hãy dùng máy truyền tin nầy mà nói lên nguyện vọng của các bạn. chúng tôi sẽ đáp ứng” Trên ghe có anh cựu Hoa Tiêu trực thăng tên Nguyễn Hữu Dũng biết xử dụng máy truyền tin nầy. Anh liên lạc bàng Anh Ngữ! Rồi cũng bằng Việt ngữ nữa. Anh liên tiếp cầu cứu. Máy bay vẫn bay quanh trên không ghe chúng tôi và thả xuống thêm một hộp mớp trắng xuống biển nữa! Chúng tôi vớt lên và thấy một máy truyền tin gọn hơn, và đẹp hơn, cũng có giấy chỉ dẫn liên lạc bằng hai ngôn ngữ Anh và Việt như máy trước! Anh Dũng cũng kêu gọi như trước. Máy bay bay xa, sau đó, quanh lại gần bên ghe chúng tôi. Lại thả một thùng lớn bọc mớp trắng, to bằng nửa cái bàn viết ở văn phòng! Thùng nổi lềnh bềnh trên mặt biển. Chúng tôi vớt lên, tháo ra, thấy bên trong là thùng giấy carton cứng! Trên mặt thùng có tấm giấy trắng, cùng hai ngôn ngữ dán trên mặt thùng, chỉ dẫn “ Các bạn hãy dùng thức ăn và nước uống trong thùng nầy mà chờ chúng tôi ở điểm nầy, từ 4 tiếng đến 24 tiếng. Chúng tôi sẽ đến rước các bạn. Thank you, Good buy! Trong thùng có nước lọc, nước Coke, Sprite, và trái táo, nho, bánh biscuit. Ðang đói mấy ngày, chúng tôi được thùng quà cứu tử, quý biết bao nhiêu! Chẳng khác nào như Mangna trên trời mà Thiên Chúa ban xuống cho dân Do Thái trên đường đi theo ông Maisen từ Ai Cập về đất hứa, như trong Cựu Ước kể lại.

Sau khi ăn uống no nê, khoảng 4 giờ chiều hơn, trên ghe có nhóm vài ba thanh niên bảo chú hai Lưu, chủ ghe, cho nổ máy và liếp tục đi. Chú hai Lưu không nghe theo. Mọi người trên ghe cũng đồng ý với chú hai Lưu và nói máy bay bảo chờ từ 4 đến 24 tiếng ở địa điểm nầy! Bọn họ bảo nếu không nghe, họ sẽ lật thuyền xuống biển cho chết hết! Thật là ở thời nào cũng có nhóm người làm loạn. Chúng tôi trên thuyền không ai sợ sự dọa nạt của họ. Vì nghĩ rằng “họ lật thuyền xuống biển cho chết hết, thì họ còn sống hay sao?”! Thật buồn cười cho sự ngông cuồng của họ! Sắp chết trên biển cả mà cũng không đoàn kết. Thật buồn cho dân tộc mình quá!

Ðến hơn 5 giờ chiều, giằng co như vậy, nhìn xa xa chúng tôi thấy trên biển có một chấm đen bằng đầu đủa ăn lớn từ từ chấm đen ấy lớn dần, lớn dần. Chúng tôi nhìn mãi, lòng hy vọng tàu đến rước!

Quả thật, chấm đen đó đến gần. Ðó là chiếc tàu hiện ra và dừng lại cách chúng tôi khoảng một dậm. Trong lòng chúng tôi vui mừng như được sống lại. Chúng tôi cố nhìn và thấy phía sau boong tàu các thuỷ thủ, xuất hiện và lao xao thật nhiều trong đồng phục y tá nhà thương. Trên tàu đưa xuống một chiếc cano, trên cano có 3 người, một tài công đội mũ trắng, một y tá, mũ trắng có thập đỏ, và một người lính thuỷ quân lục chiến, tay có súng M 16. Cano từ từ chạy đến ghe chúng tôi. Ðến gần, họ hỏi “ Có ai biết tiếng Anh không”. Trên ghe chúng tôi, có nhiều người biết, nhưng chúng tôi đề nghị anh Dũng tiếp xúc với họ. Thoạt tiên họ hỏi “ Cần giúp gì?” Anh Dũng trả lời “ Chúng tôi cần giúp đỡ vì thuyền chúng tôi hỏng máy!” Họ xin phép lên thuyền để giúp đỡ. Xem xét máy kỷ lưởng xong, toán người nầy trở lại Cano lấy cờ đánh hiệu liên lạc qua tàu lón. Tàu lớn trả lời bằng đèn. Chúng tôi thấy rõ ràng sau vài phút hai bên liên lạc bằng ám hiệu, chúng tôi thấy 3 người Mỹ trên Cano chúng tôi thương mến, cảm động, rơi nước mắt! Vì nghĩ rằng họ là người ngoại quốc. Người Mỹ trước kia có liên hệ đến đất nước mình và người dân mình. Họ vắng bóng khoảng 5 năm thì nay lại gặp họ có lòng nhân đạo cứu vớt dân mình! Trái lại bọn Cộng Sản Việt Nam, cũng là dân Việt Nam, thôn tính Miền Nam, tình đồng bào ruột thịt, sao không biết thương nhau, ôm ấp với nhau mà xây dựng đất nước tương lai? Sự trù phú miền Nam nhập chung Miền Bắc nghèo đói rách nát bởi chế độ Cộng Sản, sao họ không đoàn kết huynh đệ? Cùng nhau xây dựng lại đất nước gần nửa thế kỷ chiến tranh! Nếu họ nghĩ được như vậy thì hôm nay, Việt Nam không thành con Rồng thì cũng thành con Hổ của Ðông Nam Á, chứ không phải tụt hậu như con Giun ngày nay!

Trở lại câu chuyện trên chiếc Cano, sau vài phút liên lạc với tàu lớn, chúng tôi biết là tàu lớn chấp thuận cho chúng tôi lên tàu. Họ bảo, “ Ðàn bà và trẻ em nằm xuống, cột ghe chúng tôi vào Cano di chuyển về tàu lớn. Lúc đó, chúng tôi nhìn thấy, thang tàu được hạ xuống, thuỷ thủ đứng dọc theo thang từ trên tàu cho đến mặt biển. Khi Cano cập đến thang tàu thì họ ra lịnh thuỷ thủ giúp đỡ trẻ con và đàn bà lên boong tàu trước. Ðàn ông tự động lên sau, và tập trung ngồi xuống thứ tự, khi đó, đàn ông chúng tôi họ cho uống nước lọc để rửa ruột và phát thuốc thơm của Mỹ mà mình đã ưa thích trước kia. Tôi thán phục người Mỹ rất tâm lý và chu đáo. Uống nước và hút thuốc xong, họ cho vào trong và có cơ quan di trú trên tàu làm thủ tục. Họ để quần áo trong các bao, đủ loại mặc tình chọn lựa, và thay đồ củ của mình ra. Họ lập nhà tắm dã chiến, tha hồ tắm tửa. Quần áo củ để ra họ đem giặt máy trên tàu và trả lại cho chúng tôi. Chiều đó, chúng tôi được ăn gà chiên KFC. Thật quá đả làm sao đâu! Toàn thể trên tàu chúng tôi có 107 người! Sau đó, được biết tàu vớt chúng tôi là Tuần Dương Hạm USS Long Beech, thuộc Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương. Lịch sử chiếc Long Beech thuỷ thủ đoàn gần 2000 người, trang bị máy chạy bằng nguyên tử lực sau Ðệ Nhị Thế Chiến. Số Thuỷ Thủ đông như vậy mà trật tự vô cùng. Chỉ có 10 thuỷ thủ được đến phục vụ chúng tôi mà thôi.

Chiều đến, chủ ghe được hỏi đến. Chú hai Lưu rất phân vân không biết tính sao. Anh Dũng hỏi lại họ “ Tìm chủ ghe để làm gì?” Họ bảo “ Chủ ghe muốn giữ ghe làm kỷ niệm hay huỷ bỏ?” Thì chú hai Lưu đồng ý huỷ bỏ. Sau đó, họ cho Cano câu chiếc ghe ra xa và bảo chúng tôi theo dỏi chiếc ghe khi Cano trở lại. Lúc bấy giờ, 5 hay 7 phút sau, chiếc ghe bị lựu đạn nổ chậm làm phát nổ cháy tàn lụi chìm xuống biển xem rất ngoạn mục như phim ảnh màn bạc!

Người Mỹ làm việc gì cũng chu đáo và có sấp đặt cả! Kể cả việc mất nước của Việt Nam Cộng Hòa cũng vậy!

Ðêm đó, họ căn màn ảnh lên cho chúng tôi xem phim Lý Tiểu Long Quá Giang. Thật là hợp với tâm lý người Việt vô cùng! Xem phim xong, khoảng 11 giờ đêm, chúng tôi được nghe tin Ðài VOA Hoa Kỳ nói rằng “ Vào khoảng 5 giờ chiều nay chiếc Tuần Dương Hạm USS Long Beech vớt được 107 người gồm đàn ông, đàn bà và trẻ con tại biển Ðông. Những người nầy đương nhiên được lên đất Hoa Kỳ và đây là lần thứ 93 Tuần Dương Hạm vớt được.” Nghe xong chúng tôi vổ tay reo hò. Các thuỷ thủ phục dịch, nghe như vậy, hỏi chúng tôi “ Tại sao các anh vui mừng?” Thì các thuỷ thủ biết chúng tôi được tàu Hoa Kỳ vớt và được định cư tại Hoa Kỳ.

Chúng tôi sống trên tàu, lênh đênh như vậy hơn 3 ngày. Kế đó, các thuỷ thủ nhìn thấy và cho biết khoảng một tiếng sau sẽ gặp một ghe vượt biên nữa. Họ bảo chúng tôi chuẩn bị chờ xem. Quả thật, thêm một chiếc thuyền nữa được cứu vớt. Thuyền có 36 người, máy hư! Tất cả đàn bà con gái lón nhỏ đều bị hải tặc hảm hiếp, nằm la liệt, máu me thê thảm! Ðàn ông thì bị đánh đập tàn nhẫn không sao gượng dậy nổi!

Tiếp cuộc hành trình đến ngày thứ sáu trên tàu, họ cập bến cảng Satahip của Thái lan, gửi chúng tôi lên xứ Thái. Xe nhà binh Thái chở chúng tôi vào trại Tị Nạn Leam Sing, Thái Lan. Trại nầy dựa bờ biển. Người tị nạn tự cất trại làm nhà, chuyển nhượng từ người nầy sang người khác. Cao Uỷ tị bạn không cất trại cho thuyền nhân. Vào trại ngày 6 tháng 5 năm 1980 đến ngày 20 tháng 7, 1980 chúng tôi được dời lên trại Lumbini Bangkok chờ đi định cư tại Hoa Kỳ! Ba ngày sau, chúng tôi được chở đến phi trường Bangkok. Từ đó, chúng tôi bay thẳng đến Italy lúc 12 giờ trưa địa phương. Và WTA tiếp tục chở chúng tôi đến New York vào lúc 5 giờ chiều địa phương ngày 24 tháng 7, 1980. Nơi đây, Ðại Diện của hội Lutheran Refugee Service (LSS) đón chúng tôi và phát cho mỗi người mười Mỹ Kim để tiêu xài. Ðêm đó, chúng tôi được đưa vào khách sạn, tắm rửa, dùng cơm tối và xem nhạc sống trong Bar có sàn nhảy! Sung sướng qua đêm hưởng cái văn minh của con người xứ Tự Do, không như Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Sáng hôm sau, Ðại Diện hội LSS đến khách sạn đưa chúng tôi lên phi trường vế Washingtom DC. Nơi đó có người đón rước chúng tôi. Biết như vậy song chúng tôi vẫn phập phòng.

Phi cơ đáp xuống phi trường Washington DC, hành khách lên phòng đợi. Tay tôi xách túi có chữ LSS và tên của tôi. Ðại Diện của hội LSS nhìn thấy gọi lớn tên tôi “ Tôi Ðại Diện hội Lutheran Refugee Services đến rước Ông đây, mời Ông và gia đình theo tôi về trụ sở hội” Nghe vậy, lòng tôi mừng vô hạn. Người đại diện của hội là bà Lê thị Hiển phụ tá về người tị nạn. Bà hỏi thăm gia đình tôi rất thâm tình. Ðến trụ sở hội, chúng tôi được dành hai phòng ngủ, một cho vợ chồng tôi, và một cho hai đứa con tôi. Giường ngủ khang trang, tiêu chuẩn của người Mỹ. Mỗi ngày hội phát tiền cho chúng tôi mua thức ăn, thức uống.

Ngày qua ngày, hai tuần, rồi ba tuần, tôi hỏi bà Hiển “Chừng nào chúng tôi đi định cư?” Bà trả lời “ Chờ vài ngày nữa, hội đang tìm.” và nói rõ “ Gia đình Ông, bốn người, nên rất đặc biệt, gia đình thường không bảo trợ nổi, phải có hội đoàn bảo trợ,” Thật vậy, đến ngày 27 tháng 8 , 1980, tại South Boston, VA, Dan River Baptist Association bảo trợ chúng tôi qua 33 Nhà Thờ trong quận Halifax, VA. Ðầu tiên chúng tôi đến và ở trọ nhà anh Chí và chị Vân, người Việt duy nhứt tại thành phố nầy. Anh Chí là Kỹ Sư điện, làm việc tại hảng Westinghouse, South Boston, VA. Anh chi còn rất trẻ khoảng 30 tuổi có một cháu trai được 8 tháng tuổi. Nhờ đó chúng tôi được an ủi khi mới đến định cư.

Bốn ngày, hội bảo trợ tìm cho chúng tôi sở làm khi chưa có Thẻ An Sinh Xã Hội. Tôi được vào làm tại hảng sửa máy lạnh Climate Control Inc. Hảng nầy là hảng lớn tại đây. Vợ tôi cũng được sở làm thợ may trong hảng may lớn Sale Knitting. Ba tuần lể sau, hội bảo trợ mướn cho chúng tôi căn nhà dưới phố South Boston, VA. Nhà vừa ở có ba phòng ngủ, từ giã gia đình anh Chí dọn ra căn nhà vừa mướn được. Hàng tuần chúng tôi thường đến nhà anh Chí với một gia đình người Việt nữa. Từ thành phố Danville, VA, cách chỗ tôi ở chừng 30 miles. Hàng tuần, đến ngày Chúa Nhựt, chúng tôi trang phục chờ đại diện bảo trợ chở chúng tôi đi nhà thờ. Việc nầy nhằm đi lễ nhà thờ và trình diện với những nhà thờ bảo trợ. Mội tuần đi đến một nhà thờ khác nhau, và dùng điểm tâm với những tìn đồ của nhà thờ. Ðây là dịp chúng tôi cám ơn sự bảo trợ chúng tôi. Nguồn an ủi cho chúng tôi là người Mỹ có lòng bác ái, giúp đỡ chúng tôi tận tình. Chúng tôi nhờ vậy, thích sống và làm lại cuộc đời mới nơi xứ người.

Tiểu bang Virginia được người Mỹ cho là đẹp nhứt trong 50 Tiểu bang của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, nhưng đến mùa Ðông thì năm nào cũng có tuyết phủ và lạnh lẽo. Không hạp với người Á Châu mình. Nên tôi nguyện ở đó chừng 2 năm để trả ơn Hội Bảo Trợ. Sau đó, tìm đến nơi có số người Việt Nam cư ngụ đông đúc chúng tôi tái định cư. Ðến tháng 7 năm 1982, tôi từ giã Hội Bảo Trợ và về Houston TX với cháu tôi. Tôi xuống Houston trước, gia đình vợ con còn ở lại Virgiania, vì các con tôi còn đang học ở trường. Mãi đến năm sau, vợ con tôi mới chuyển xuống Houston. Hồi đầu tôi làm đủ thứ nghề, làm lao công Burgerking Restaurant Fastfood, công nhân bán tiệm grocery, đi thảy báo Houston Post, rồi tìm được job bảo trì máy lạnh ở Khách Sạn Hilton Inn, Intercontinental Airport, rồi làm bảo trì máy ở Houston Fine Art Musium. Sau cùng làm “ Kinh tế tự túc” Air Conditioning & Heating. Nghề nầy tôi đã làm hồi ở Việt Nam, qua đây khai nghề với Hội Bảo Trợ, và được làm trong hảng sửa máy lạnh. Ðó là dịp may cho đời tôi, qua Mỹ mà không chuyển nghề! Ðược cập nhật với những tiến bộ của kỹ thuật Hoa Kỳ. Nếp sống và lợi tức kiếm được tương đối dễ với tôi. Các con tôi cũng nhờ ơn trên và chí nhẫn nại học hành. Con gái lớn nay đã hành nghể Real Estate Broker tại Houston. Ðứa con trai lớn ra Ðại Học ngành máy lạnh và hành nghề A/C & Heating như tôi. Cháu hiện nay cũng hành nghề kinh tế tự túc về máy lạnh. Và đứa con út là Ðức Nguyễn hiện đang sống ở Los Angeles. Cháu tốt nghiệp Củ Nhân về Mass Communications từ trường UC Berkeley. Cháu có hơn 10 năm kinh nghiệm về giải trí, truyền hình. Từ năm 1997 đến năm 2000, cháu đã sản xuất Chương Trình Truyền Hình Giao Tiếp cho Phố Chính của hảng GTE. Công trình của cháu đã giúp thực hiện việc dùng mạn lưới viển thông internet qua hệ thống truyền hình dây cáp vào năm 2001. Cháu sản xuất Chương Trình Mediated Reality, một phim tài liệu về nước Cuba vào thời Ông Alian Gonzalez. Cuốn phim xem xét dòng chính của truyền hình mô tả trường hợp Ông Alian và trình bày những quan điểm khác biệt của người dân Cuba và Mỹ mà bình thường họ không được xem qua truyền hình và nội bộ nước Cuba!

Cháu Ðức đi du lịch rất nhiều, đã và đang hoàn tất những phim tài liệu vế Việt Nam, Cuba, từ trên rặng núi Andes xuống vùng Amazone , Nam Mỹ. Vào năm 2002, cháu ở Equador một tháng để quay phim thu thập tài liệu về một số Nhà Khảo Cổ tìm tòi về nền văn minh trước thời Inca. Năm 2003, cháu giữ chức vụ Phụ Tá Kiểm Duyệt “The News American” và “My Journey Homes”, là nhũng loạt phim nhiều phần và Lý Lịch. Ðó là hai loại phim theo dỏi các sắc tộc trên thế giới trên đường họ đi tìm một nơi để gọi là nhà! Chương trình nầy đã được chiếu trên băng tần PBS toàn quốc, tháng 3, năm 2004. Hiện cháu đang sản xuất phim tài liệu Bolinao 52. Phim nầy nói về các Thuyền Nhân Việt Nam Tị Nạn Cộng Sản. Chi tiết nầy trên mạng lưới www. rhimp,com/Bolinao.

Tôi hiện nay đã về hưu, rảnh rang nhìn lại quá khứ cuộc đời từ 30 tháng Tư năm 1975, quá nhiều gian truân với Cộng Sản hồi còn ở quê nhà, sau khi được định cư ở Hoa Kỳ, trước cám ơn Thượng Ðế, sau biết ơn Chính Phủ và nhân dân Hoa Kỳ cưu mang gia đình chúng tôi và cho tôi một nếp sống đầy hạnh phúc. Các con của tôi tuy không bằng ai, nhưng được sống lành mạnh, không sa ngả trong cuộc đời. Nếu chúng tôi còn ở lại Việt Nam với Cộng Sản thì gia đình tôi sẽ ra sao!?

Tôi nguyện làm tất cả những gì, và tất cả việc gì mà Cộng Ðồng Việt Nam ở Hải Ngoại tranh đấu cho Ðồng Bào trong nước để giải thể chế độ độc tài và đem lại Tự Do Dân Chủ cho nước Việt Nam. Tôi tình nguyện tham gia các Ðoàn Thể địa phương với các Tổ Chức Ðấu Tranh để hướng về Washington DC ngày 30 tháng 4 năm 2005 để Tri Ân Chính Phủ và Nhân Dân Hoa Kỳ, và tranh đấu, dựng lên Cờ Vàng cho Việt Nam Tư Do.

Nguyễn văn Như

Ngày mùng 5 tháng Giêng, năm 2005

Sugar Land Texas, 77478

One clap, two clap, three clap, forty?

By clapping more or less, you can signal to us which stories really stand out.