- Cậu thích con gì?
- Tớ thích mèo. Chó có vẻ hơi quấn quýt và phấn khích quá so với tớ.
- Vậy hả? Còn con vật yêu thích của chúng tớ là hươu cao cổ, tê giác và báo đốm.
Hồi nhỏ, tớ luôn sợ ông hàng xóm. Không phải vì ông hay nổi cáu hay luôn hằm hằm gương mặt hung dữ. Chỉ là mỗi lần tớ phá phách hay có hơi lỡ làm ồn một tí, ông sẽ doạ “bán tớ sang châu Phi”. Dù tớ chưa từng đến châu Phi trước đó, nhưng có lẽ trong trí óc non nớt của đứa trẻ mẫu giáo, khoảng cách địa lý 10.000km cũng đủ hãi hùng như việc bị mẹ cấm xem phim siêu nhân trong vòng 2 tuần vậy.
Ngoài khái niệm đầu môi đầy xa xôi của ông hàng xóm, châu Phi thoáng hiện qua những lát cắt trong quá trình trưởng thành của tớ. Tớ nghe nói ở châu Phi có tiếng sư tử thét gầm giữa thiên nhiên hoang dại như trong Vua Sư Tử. Tớ biết ở châu Phi có người da đen, nơi mà mọi người gọi đó là quê-hương-thứ-hai-của-tớ vì da tớ có màu vô cùng “ngược sáng” so với đại chúng châu Á. Tớ nghe về Apartheid, về Nelson Mandela, về Nam Phi. Tớ sực nhớ Nam Phi có người da trắng và tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ, khi và chỉ khi gặp một chị Nam Phi da trắng cùng nhóm hài. Trong khi bạn bè chuyền tay nhau những câu chuyện chinh phục Đông Nam Á, đi Nepal, hay một mình lang thang giữa châu Âu, lục địa đen trở thành giấc mơ nằm lẩn khuất đâu đó trong não bộ, trở đi trở lại trong tâm trí một cách không rõ ràng. Tớ chỉ biết rằng, nó luôn ở đó và “có thể chờ được”.
Nhưng có lẽ, ông trời cũng không để tớ chờ quá lâu. Điều tốt thì đến với người biết nhẫn nại. Dù sự chờ đợi này có phần mù quáng và hơi…thiếu mục tiêu cụ thể, thì một cú click chuột vu vơ vào mùa hè 2019 đã thực sự để lại lịch sử.


18/09/2019, tớ lao phăng phăng ra sân bay với chiếc hộ chiếu mới đi du lịch nước ngoài 1 lần (Thái Lan). Sau một loạt hỏi han vì đảo lộn thứ tự họ tên tiếng Việt trên visa và mục đích chuyến đi, nhóm chúng tớ cũng tai qua nạn khỏi và bắt đầu chuyến hành trình của những bạn trẻ tuổi 20. Khi thật sự đặt chân lên chuyến bay dài 18 tiếng, tớ mới dám thở phào, à, qua cửa hải quan rồi, xong rồi, thật sự sắp tới châu Phi rồi. Và ai biết được chứ, 0% kỳ vọng lại dẫn tới một niềm vui không thể dự báo ở phía sau.
Cuốn sách mini này là những phút giây cảm động của tớ trên chuyến hành trình 2 tuần ở Nam Phi vào tháng 09/2019. Tớ chia bài viết thành ba góc nhìn nhỏ, một phần dành cho thiên nhiên châu Phi, một phần dành cho con người nơi đây, và một phần là những trăn trở về cuộc chiến đẫm máu đang sục sôi tại Nam Phi. Tớ mong sẽ được các cậu dành thời gian đọc từ trên xuống dưới, nhưng nếu như thời gian không cho phép, thì cũng sẽ chọn được dòng, đoạn nào đó để nghiền ngẫm.
Cảm ơn chị Trang, bố Mark, mẹ Janet, và các anh chị em trong đoàn Việt Nam. Cảm ơn WildAct và Ban tổ chức của World Youth Wildlife Summit.
Cảm ơn Mẹ.
CHƯƠNG I: MỖI LẦN NHÁY MẮT LÀ MỘT SỰ TIẾC NUỐI
Trước hết, hãy cùng nói chuyện lý trí một chút đã. Tại sao tớ lại được đi Nam Phi?
Đây là phần thuởng dành cho các bạn trẻ chiến thắng cuộc thi viết luận về tê giác do WildAct tổ chức. Top 5 chung cuộc đại diện Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Trẻ về Động vật Hoang dã (World Youth Wildlife Summit) tại Nam Phi dưới sự bảo trợ của Project Rhino. Kết thúc hội nghị, đoàn Việt Nam chúng tớ may mắn được tặng thêm một chuyến đi tour các vườn quốc gia, quan sát các hoạt động bảo tồn trong thực tiễn và trải nghiệm cuộc sống với người bản địa.
Đây là bản đồ châu Phi cùng với các địa điểm chúng tớ đã đến vào tháng 9/2019

Nhìn có vẻ khá lằng nhằng nhỉ. Nhưng thôi, khó quá bỏ qua. Đọc tiếp để xem có gì hay hơn không nhé.
Chào mừng tới Nam Phi!
—
Bước ra khỏi cửa sân bay Quốc tế O.R. Tambo ở Johannesburg, tớ cảm giác như mình chuẩn bị đón một mùa thu Hà Nội sớm. Thời tiết Nam Phi đang vào đợt cuối đông đầu xuân, ánh nắng vàng ngọt trải dài trên khắp các tuyến phố và con đường cao tốc tấp nập. Gió mùa thổi mát lạnh, có khi lạnh buốt vào sáng sớm và chiều tối. Đấy là tớ được nghe các bạn đón đoàn ở sân bay kể vậy thôi, còn trải nghiệm sốc nhiệt phải kể đến khi chúng tớ sống ở trong khu lều trại tại Southern Africa Wildlife College trong 4 ngày tiếp theo.
Trên chuyến xe 8 tiếng từ Johannesburg về trường Đại học ở Hoedspruit, dù chỉ ngồi yên và nhìn ra cửa sổ thôi, nhưng tớ đảm bảo rằng chưa bao giờ đôi mắt và đôi tai tớ lại được dịp hoạt động hết công suất như thế. Tiếng Anh Nam Phi với những âm “yah, yah” lạ lùng bỡ ngỡ. Chú lái xe quay xuống đoàn thì nói tiếng Anh, còn quay sang nói chuyện với người quen thì sẽ nói bằng thứ tiếng thuộc…10 ngôn ngữ còn lại. Màu da đen kịt của 90% người dân bản địa, gương mặt tươi rói và hàm răng trắng bóc. Những bảng biểu bầu cử, quảng cáo chạy dọc con đường quốc lộ được trang trí kiểu Âu Mỹ, sáng chói nổi bật. Những biển báo chỉ đường với cái tên chưa từng nghe, thách thức cách đọc của bảng chữ cái Latinh — Hluhluwe sẽ đọc là shul-shul-we nhé các bạn ;) Các cậu đã bao giờ trải qua cảm giác người nóng rừng rực, andrenaline chạy hết công suất khi nghe một ai đó nói về những miền đất lạ chưa? Những chuyến tàu chạy từ Kyoto tới Okinawa, hay những đôi chân dạo bước trên Soho New York. Nam Phi đã ở đây, Johannesburg, Durban, Cape Town là đây, ngay lúc này.
Chiều tối hôm đó, chúng tớ nhận trại và sắp xếp chỗ ngủ trên giường tầng — tay dỡ hành lý còn mồm ngậm đèn pin. Cuộc sống không có điện trong phòng, nhà tắm, nhà vệ sinh và nhà ăn đặt xa nhau mô phỏng chính xác những ngày tháng đi học quân sự ở trường Đại học. Nhưng đi học quân sự đại học thì đâu thể ngửa cổ lên và thấy một bầu trời sao quanh đầu mình và ước vội trên ngôi băng vừa vụt qua. Cũng chẳng ai dặn mình phải đi giày kín mũi vì có khả năng sẽ có một con bò sát nào tợp vào chân, hoặc con trâu nào đó xồ ra bất cứ lúc nào. Đi ngủ sợ thì cứ trùm chăn kín đầu thôi, vì cái rét buốt của đêm Nam Phi cộng với những cuộc nói chuyện trên trời dưới bể với hội bạn mới sẽ khiến chúng tớ mau mệt mà thiếp đi.





Nếu gọi đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, thì để thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên Nam Phi tớ phải nhìn thêm qua một lăng kính nữa là cửa sổ xe. Nhưng đừng vội “cảm thương” cho tớ, vì phần lớn thời gian, tớ đuợc ngồi trên những chiếc xe không phải dạng vừa và được chiêm ngưỡng những sự vụ cũng lạ lùng không kém.
Tớ bảo với cả đoàn rằng chuyến xe của chúng tớ như một chuyến xe picnic của gia đình. “Mẹ” Janet ngồi lái xe, “bố” Mark ngồi tán chuyện, còn 5 đứa con thì ồn ào múa ca ở băng ghế sau. Cô Janet là người Nam Phi, làm điều phối viên cho các dự án bảo tồn động vật hoang dã trong và ngoài nước. Cô đã từng làm việc với ca sỹ Thanh Bùi khi đoàn Việt Nam sang đây để trải nghiệm nhiều năm về trước. Cô mang trong mình dòng máu châu Âu, từng sống và làm việc một tập đoàn về luật ở Anh 11 năm, nên không phải ngẫu nhiên mà cô toát ra sự thông minh, trí tuệ, kỹ lưỡng trong từng lời ăn tiếng nói. Mái tóc nâu ngang vai, nụ cười tự tin và trang phục thể thao, cứ như thể cô sẵn sàng xông vào rừng để khám phá thiên nhiên bất cứ lúc nào.

Điểm chung duy nhất giữa “bố” và “mẹ” là cả hai đều ăn chay và có thể trạng cân đối, nhanh nhẹn. Ngoài ra, chú Mark trong mắt con trẻ — là chúng tớ — lại nằm ở một thái cực hoàn toàn khác. Chú thích nói chuyện, và có thể nói không ngừng nghỉ với tất cả mọi người xung quanh về đủ thứ chuyện trên trời dưới bể, kỹ lưỡng nhất sẽ là chuyện bảo tồn vì đó là chuyên môn của chú. Chú bảo là do đặc tính hồi trước làm 13 năm trong ngành sales, rồi cũng là do đi học đại học lúc đã luống tuổi nên quen nói chuyện kiểu bọn trẻ luôn. Nhiều lúc tớ vẫn không thể chịu được những cái câu đùa kiểu Anh tự châm biếm bản thân của chú, nhưng sau đó là phì cười về độ teen và sẵn sàng chia sẻ của cái “ông” này. Trong những phút giây gà gật trên chuyến xe gia đình, bên tai tớ luôn văng vẳng tiếng bố và mẹ nói chuyện với nhau, có khi còn nhiều ngang tiếng gió và tiếng chim hót ngoài đường.
Ngồi sau tay lái của cô Janet, chúng tớ chạy dọc con đường quốc lộ nối từ Hoedruit đến Bongani. Radio phát những bản nhạc latinh, reggae, thi thoảng chạy qua kênh tin tức xã hội về công nghệ thực tế ảo của Facebook. Tiếng nói cười rộn ràng của lũ trẻ trong xe, đồ ăn chất đầy ở gầm ghế và đống hành lý lỉnh kỉnh ở phía sau. Nếu đây không phải là chuyến road trip trong mơ của những bộ phim miền đồng cỏ, thì cái gì mới là road trip?
20 tiếng di chuyển trên xe gia đình giúp tớ phóng tầm mắt ra ngoài cửa sổ để chiêm ngưỡng bức tranh Nam Phi thay đổi dọc theo con đường quốc lộ. Retief, cũng như bao thị trấn khác, là nhà cửa đẹp to với khu nhà thờ Thiên chúa giáo và Hồi giáo mọc lên sừng sững. Bố trí khu dân cư chủ yếu theo dạng nhà chứ không phải căn hộ chung cư, có sân vườn và bãi để ô tô, ngăn cách bởi những tấm hàng rào trắng hoặc tường xây cao. Trong không gian nhỏ của những thị trấn như vậy, tớ dễ dàng bắt gặp một loạt các cửa tiệm xếp cạnh nhau ở trục đường chính. Chỉ cần rẽ vào nghỉ đổ xăng thôi là có đủ năng lượng cho cả người và xe để đi tiếp rồi, cũng không quên lưu ý rằng đồ ăn bị thiếu rau thực sự (đồ ăn nhanh mà).








“Bên trái như trạm dừng chân ở Mỹ, bên phải có ngay hàng quần áo và đồ gia dụng nhìn như chợ Trời Hà Nội” — Tớ tự nói với chính mình.
Vượt ra khỏi biên giới của các thị trấn, chuyến xe mang biển số Guteng băng băng tới không gian của thiên nhiên cây cỏ. Dùng ba từ để miêu tả thì sẽ là 1. Thông, 2. Nhiều thông và 3. Rất rất nhiều thông. Cậu bạn học về bảo tồn thi thoảng sẽ ngoái lên nói với đằng trước, “Nam Phi có một thảm thực vật đa dạng và rừng cây lá kim phong phú”. Chưa kịp để cậu ấy hoàn thành bài diễn văn, cả hội đã nhoài người ra sát cửa kính và giơ máy ảnh ra để tóm lấy những rừng thông sừng sững — không phải là một dải nối liền, mà đi một quãng sẽ gặp một rừng thông, một khóm thông đặt cạnh nhau. Cô Janet nói đó là do có con người tham gia vào hoạt động plantation, nên đôi khi sẽ có các khoảng đồi trọc vì xói mòn. Nhìn một nửa bên đồi mòn trụi, bên cạnh là cây mới nhú, rồi đằng xa là cả một rừng lá kim cũng không còn là chuyện lạ đời. Các cây cỏ bên đường cũng vẽ lên một bức tranh savannah đa sắc cho Nam Phi, khi mà một quãng bên dưới thực vật còn mang ánh vàng như bờm sư tử, thì lên trên đã trải ra một màu xanh mướt. Các con đường trải xi măng phía trước lên cao xuống thấp như tàu lượn, vì vậy mà mấy dặm đầu còn giơ máy ảnh lên, chứ còn từ những chặng sau chẳng ai bảo ai đều buông máy xuống mà thả mình vào khoảng không gian thay đổi liên tùng tục ấy.
Ở Bạch Mai đi công viên Thống Nhất, ở Ba Đình thì đi công viên Bách Thảo, còn ở Hluhluwe thì phải đi Imfolozi. Lý do duy nhất có sự so sánh khập khiễng này, đó là nếu như mẹ tớ dành mỗi ngày để ra công viên Thống Nhất đi bộ, thì chúng tớ dành mỗi ngày để ra vườn quốc gia Imfolozi ngắm cảnh thiên nhiên. Vẫn trên con xe mini ấy, nhưng lần này “bố” Mark và “mẹ” Janet sẽ thay nhau lái. “Bố” lái thì “mẹ” sẽ thuyết trình cho bọn trẻ con nghe và ngược lại, mà tiện nhất là cả hai đều chắc chuyên môn nên coi như outsource miễn phí hướng dẫn đoàn luôn. Vườn quốc gia Hluhluwe-Imfolozi rộng 105.000 héc-ta, rộng bằng Hà Lan, phân cách hai khu vực Hluhluwe và Imfolozi lần lượt ở phía Bắc và phía Nam. Muốn chạy xe ô tô thì phải chạy theo biển hướng dẫn để đảm bảo an toàn, vì một khúc cua sẽ mở ra một tầm nhìn rộng từ trên mỏm núi. Xa xa là những rặng núi sừng sững đan xen với những quả đồi thoải, còn sâu bên dưới là một tầng thực vật phong phú và đa dạng.
Cuộc hành trình trên xe sẽ bao gồm việc lái xe — phát hiện các loài sinh vật — thuyết minh, chụp ảnh và bắt đầu lại từ đầu. Nghe thì có vẻ đơn giản và nhàm chán, nhưng hãy thử tưởng tượng như cậu đang lạc vào một viện bảo tàng, mỗi tấm hình đều sẽ khiến cậu dừng lại để đọc về chất liệu, ý nghĩa bức tranh. Đi giữa Imfolozi là một cảm giác như vậy, khi chỉ một giây bất cẩn thôi sẽ cuớp đi một cơ hội nhìn thấy một chú hươu sao, một bầy hươu cao cổ hay một chú chim Oxpecker (chim bắt rận) đang đậu trên lưng một con tê giác. Chiếc xe vì thế mà di chuyển một quãng sẽ được nghe tiếng hô “Dừng lại!” cực lớn từ một ai đó vừa “thấy một con chim gì đó trốn ở một cành cây gì đó”. Thế là hoặc bố Mark hoặc mẹ Janet phải giải thích đó là chim bói cá thân xanh ngực cam đang trốn ở trong bụi cây. Hoặc trên trời có mấy “tụ” đen đen bay qua bay lại thì phải phân biệt được đâu là diều hâu, đâu là đại bàng bateleur đang bám theo diều hâu tìm ăn xác chết.
Mỗi sáng đi xe ra công viên Imfolozi không khác gì một buổi tập não. Cậu sẽ không biết rằng điều gì đang chờ mình ở phía trước!







Đan xen những chặng di chuyển trên xe có kính, chúng tớ cũng được dịp hoá thân thành tiểu đội xe không kính với những chiếc xe Land Rover. Loại xe “mui trần” và bỏ chắn hai bên này là phương tiện di chuyển khi chúng tớ được các hướng dẫn viên du lịch hướng dẫn tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên. Ngoài Công viên Hluhluwe-Imfolozi, chúng tớ được cưỡi trên những con xe hàng khủng tại Vườn quốc gia Kruger và Bongani Mountain Lodge. Gió lạnh cứ thế tạt vào mặt và suýt bay mũ mấy hồi, ai nấy phải mò tay ngay xuống gầm ghế để lấy chăn lên đắp, ấy thế mà mắt vẫn phải mở to để nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng. Không còn bị giới hạn bởi mái che, chúng tớ có thể nhìn lên cao hơn, ngắm những cây đại thụ Nam Phi trứ danh và ghi lại khoảnh khắc các loài chim bay về xây tổ với độ sắc nét chân thực nhất.


“Cầm tay nhau nhé. Và chúng ta cùng hứa sẽ không nói gì trong 4 tiếng nữa được không?”
Nunu huớng dẫn chúng tớ đứng thành vòng tròn và chia sẻ các suy nghĩ của nhau theo nghi lễ. Mái tóc anh để kiểu dreadlocks rất Nam Phi, nụ cười vẫn tươi rói ở trên môi như ngày chúng tớ gặp anh ở trường Đại học. Nunu là khách mời của chương trình vào mấy hôm trước, chia sẻ câu chuyện cuộc đời của mình từ một kẻ săn bắn hoàn lương và trở thành một người kiểm lâm. Hôm nay, anh sẽ dẫn chúng tớ hành quân trong rừng. Quần áo quân đội chỉnh tề, súng giắt bên vai và hông đeo băng đạn, anh hướng dẫn chúng tớ những ngôn ngữ ký hiệu sẽ sử dụng trên đường đi hành quân để không phát ra tiếng động. “Như vậy, bằng cách nào đó, con người sẽ trở thành một phần của thiên nhiên.”
Chúng tớ dịch chuyển theo một hàng dọc, nhìn trên cao sẽ như một con rắn nhiều màu đang trườn bò giữa mê cung hồn trận của Imfolozi. Không ai phát ra một tiếng động, chỉ có tiếng bước chân và tiếng quần áo loẹt xoẹt vào cây lá. Âm thanh con người duy nhất có thể nghe được là tiếng thở, tiếng uống nước, và tiếng máy ảnh tách lên khi thấy một khung hình ưng ý. Mọi người cứ đi và đi, đầu óc cố gắng ngừng đuổi theo những suy nghĩ riêng tư để cảm nhận đuợc vẻ đẹp tĩnh tại. Những phút giây chững lại trước một mỏm núi, ngửa mặt lên trời, vừa có cảm giác thuộc về thiên nhiên, vừa có cảm giác lọt thỏm giữa núi non đại ngàn.
Theo dấu Nunu, chúng tớ mon men tiến gần những loài động vật trong rừng ở phạm vi gần nhất. Mỗi khi thấy bàn tay của người dẫn đường giơ lên, cả đoàn sẽ tự động dừng lại và quan sát thật kỹ xung quanh, không quên dùng ống nhóm để phát hiện một loài động vật đang ẩn mình trong lùm cây phía xa xa. Và cứ thế, một đoàn ngựa vằn chạy vụt qua trên đồng cỏ. Hai chú tê giác nằm cựa mình nhau bên một lùm cây sau bữa trưa no nê. Tiếng chân thoăn thoắt của linh cẩu và linh dương impala làm xáo động cả một góc rừng. Đường bay của chim thiên đường như vẽ ra một chiếc cầu vồng bảy màu trong khuôn hình ống nhòm.
“Loài tê giác đực sẽ dùng phân của mình để đánh dấu lãnh thổ. Sau khi “hành sự’ xong, chúng sẽ đá tung chất thải của mình và tạo thành một vùng tự trị của riêng mình. Mắt chúng rất kém những mũi thì rất thính. Chúng dùng khứu giác để nhận biết lãnh thổ và bạn của mình.”
“Ở trong rừng có một loài cây tên là quary. Người ta cầm cành cây này đi trong rừng, tới nơi có nguồn nước thì cành cây sẽ rung lên. Giống với cây Hazel ở châu Âu, cây Quary là một trong những cách để người sống trong rừng tìm nước để sinh tồn.”
Những câu chuyện nho nhỏ như thế sẽ được mọi người thì thầm ôn lại với nhau khi tới một khoảnh đất nghỉ ngơi. Cảm giác như những điều mình được học trong sách vở và nghe từ đầu chuyến đi tới giờ đã có thể được kiểm chứng ở thực tiễn, mắt thấy, tai nghe, da chạm thử. Ngả lưng xuống dưới đồi, cặp xách làm gối và cỏ cây làm chiếu, tớ mới nhận ra chưa bao giờ bầu trời của mình lại xanh đến như thế. Dù có nhắm mắt rồi vẫn thấy những tia nắng ngọt ngào của núi rừng vờn qua màn chiếu trong mắt. Trong giấc mơ trưa ngắn ngủi, tớ thấy có một bầu trời sao rực sáng trên cao ở Hà Nội, một đám trẻ đang dạo chơi trong công viên, một cô gái đang chăm chút trồng cây ngoài ban công. Những yên bình đô thị.
Với cá nhân tớ, nếu nói thiên nhiên Nam Phi mang lại một rung cảm mãnh liệt thì sẽ là một sự phóng đại. Tớ không mắt chữ O mồm chữ A khi nhìn thấy một loài vật cận cảnh hay một loài thực vật mới lạ. Liệu có chủ quan không, khi nói rằng ở bên kia địa cầu, cũng có một Việt Nam xanh, trù phú và hàm chứa những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ? Nhưng ở Nam Phi, giậm chân lên mảnh đất lục địa đen, lắng nghe lời ăn tiếng nói của dân bản địa, ta có cảm giác thiên nhiên là chủ đề nói chuyện của cả một dân tộc. Hít thở bầu không khí ấy, tất yếu ai cũng sẽ cảm thấy mình là một phần cuộc hội thoại, trong đó mối liên hệ giữa con người và các loài động thực vật được đặt song song cạnh nhau xuyên dọc đất nước. Đến cuối ngày, con người có thật sự là người làm chủ và có quyền biến đổi tự nhiên, hay chỉ đơn giản là một phần của bức tranh muôn loài lớn?


Mặt trời lặn dần khi chúng tớ rảo bước về lại điểm xuất phát. Ráng trời quấn quanh những rặng núi một chiếc khăn bông đỏ cam lãng mạn. Phía xa xa, những con tê giác trắng đang gặm cỏ trên đồi và mấy con hươu cao cổ đang vươn mình trên những tán cây cao. Trong đầu tớ là Nunu và những cố gắng của anh để kết nối chúng tớ với thiên nhiên suốt cả buổi chiều hôm đó. Và tớ cũng chẳng thể quên một đôi mắt ngần ngại của anh khi anh đang làm công việc này với một đoàn khách mới. Những đoàn khách ấy, như chúng tớ, khi trở về, điều họ nhớ nhất là những tấm ảnh, hay sẽ có một sự khác biệt đi về cách nhìn ngắm thế giới?
CHƯƠNG II: Yebo saithyana — Let our voices be heard
Có những con từ được hiểu từ cái tình rồi mới đến mặt chữ, như tiếng bà ru, tiếng mẹ gọi về ăn cơm. Và nếu có câu nói nào đeo bám tâm trí tớ suốt một chặng hành trình như thế, hẳn sẽ phải là Yebo Saithyana (Let our voices be heard). Câu nói đó đến với tớ từ những ngày đầu chương trình, để rồi như một sự cởi bỏ về tâm trí, dẫn tớ tới với một thế giới nội tại không hề giản đơn trong lòng Nam Phi.
“Let our voices be heard” là thông điệp chính của World Youth Wildlife Summit 2019. Hội nghị kéo dài 4 ngày tại Nam Phi thu hút sự tham gia của gần 225 đại biểu trẻ tới từ Nam Phi và các nước lân cận trong khu vực Châu Phi. Phải đến khi tới tham gia chương trình, đoàn Việt Nam chúng tớ mới biết mình là những đại biểu hiếm hoi trên 18 tuổi tại hội nghị bên cạnh vài sinh viên châu Âu, châu Á. Còn lại xung quanh chúng tớ là những gương mặt non trẻ còn đang là học sinh cấp 3. Tớ may mắn được cùng “nhà” với 8 em nhỏ. Gwen, cô sinh viên Nam Phi da trắng, là trưởng nhóm của tớ. Gwen hơn tớ 1 tuổi. Tớ gọi Gwen là chị Gwen.
Xuyên suốt 4 ngày hội nghị, tớ đã được cung cấp một bức tranh về bảo tồn ở một góc nhìn không thể đa dạng hơn. Do hướng đến đối tượng học sinh cấp 3, thiết kế nội dung của chương trình được dàn trải khá rộng, từ thực trạng bảo tồn ở Nam Phi, các chia sẻ của chuyên gia cho đến vẽ tranh cổ động, thảo luận giải pháp. Tớ sẽ không nói rằng ban tổ chức đã cho chúng tớ một danh sách công cụ để sử dụng cho các hoạt động bảo tồn, nhưng tớ tin những giá trị về cảm xúc thì chỉ có thể tìm được ở những chương trình như thế này.
Đó là sáng ngày đầu tiên của chương trình. Theo hướng dẫn của quản lý Kingsley Holgate, nhà thám hiểm nổi tiếng Nam Phi, chúng tớ bước ra khoảnh đất bên ngoài trại chính, mỗi người tìm cho mình một hòn đá cuội. To, nhỏ, mịn, sần sùi, đủ loại. Chúng tớ được dặn phải cầm chắc trong tay những hòn đá đó, vì đó là những hòn đá của sự tôn kính. “Chúng mình sẽ có một cuộc hành quân cùng những hòn đá đó vào chiều hôm nay” — Gwen nói, tay phát cho tôi túi thông tin của chương trình. Chiều hôm đó, các nhà tập trung lại với nhau, xếp thành những hàng dài liền kề nhau trong khuôn viên trường đại học. Những lá cờ xanh, đỏ, tím, vàng in hình các loài động vật hoang dã được giương cao, những đôi mắt đen lay láy huớng lên nhìn bầu trời cao xanh thằm. Chúng tớ bắt đầu những nhịp chân đi, hàng nối hàng, đầu nhấp nhô, và tuyệt nhiên không ai được phép nói với nhau câu nào. Bởi, đó là chuyến hành hương trong sự tĩnh lặng dành cho những người kiểm lâm đã ngã xuống.
20 phút đi bộ yên lặng dưới ánh nắng ban trưa đủ làm cho những cái đầu lạnh phải suy nghĩ về sự thiêng liêng của nghi lễ này. Cả đoàn hơn 200 người dừng chân tại một cái tháp đá, nơi đó khắc một tấm bia để tưởng niệm những người kiểm lâm đã khuất. Theo hiệu lệnh của Kingsley, mỗi người chúng tôi sẽ đi ra đặt hòn đá của mình lên tháp và thể hiện một nghĩa cử biết ơn. Giây phút tớ đặt hòn đá của mình lên tháp, tớ không biết mình phải suy nghĩ điều gì. Thanh âm duy nhất lúc ấy là những tiếng nói không thành lời của Kingsley, và những giọt nước mắt bắt đầu rơi. Một tiếng khóc cho người bạn mình mới gặp vào ngày hôm trước. Sự sống quả thật vô thường.
Những người Nam Phi, ít nhất là những người Nam Phi tớ đã gặp, họ là những người có một niềm tin thép. Những người phụ nữ Black Mamma khiến tớ nhớ tới cái câu “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của nước mình. Black Mamma là tổ chức tập hợp những người phụ nữ da màu tại Nam Phi, được đào tạo, huấn luyện để trở thành những người kiểm lâm thực thụ. Ở cái tuổi hai mươi, ba mươi, khó ai có thể hình dung những người phụ nữ đang đứng trên sân khấu kia lại có đủ một sự dũng cảm để khoác lên bộ áo rằn ri, đi bốt cao cổ và làm nhiệm vụ canh tuần tại các vườn quốc gia và khu vực rừng trọng yếu. Các em nhỏ bên dưới theo dõi rất hăng say. Mới hôm qua, các em còn là các cô bé, cậu bé Princess, Lucky, Diamond, nhút nhát. Đến cuối chương trình, các em đã mạnh dạn hơn để đưa ra những vấn đề của quê hương mình, và thật sự bắt tay nhau chia sẻ về những dự định ở trường lớp— như thuyết trình, quay video, hay chỉ đơn thuần là chăm sóc một cái vườn cây nơi mình sống. Có lẽ, bố mẹ các em khi đặt tên cho các em, cũng mong các em nghe được tiếng lòng và hi vọng của mình như vậy.


Cuối buổi diễu hành, Gwen có nói với tớ thế này: “Tớ sinh ra làm một người da trắng với những đặc quyền về văn hoá, giáo dục. Tớ có thể rời bỏ đất nước mình, nhưng tớ lỡ yêu nơi này quá mất rồi.” Câu nói đó của Gwen theo tớ đến những ngày tiếp theo, và không ngừng khiến tớ phải đảo trộn tất cả những thông tin mình tiếp thu để tìm ra câu trả lời.
Ngày hôm đó, tớ trở về trại và nói chuyện với Noa, em học sinh cấp 3 người Nam Phi ở cùng lều với đoàn Việt Nam chúng tớ. Tớ ở trong một chiếc lều giường tầng dành cho 8 người, 4 Việt Nam, 3 châu Phi và 1 châu Âu. Noa khá nhút nhát và ngại mở lời với mọi người, nhưng ngay khi được tiếp cận và hỏi han về quê hương mình, em lại trở nên mạnh dạn vô cùng. Em bắt đầu trỏ tay vào không khí và hoạ ra bản đồ của quê hương mình. Nói theo đúng nghĩa đen, một Nam Phi của tớ đã mở ra rõ hơn dưới bàn tay vẽ hoạ trên không khí của em.
Nam Phi rộng hơn 1.200.000 km2, một phần lớn lãnh thổ tiếp giáp với biển Ấn Độ Dương và Nam Đại Tây Dương. Nằm bên trong lòng quốc gia còn có hai đất nước độc lập với một chính quyền riêng, đó là Lesotho và Swaziland. Các khu vực nhộn nhịp, giao thương lớn nhất tập trung ở Johannesburg và khu vực vịnh (Cape Town, Port Elizabeth). Noa cảm thấy may mắn vì cả đoàn đang được ở trong khu vực thuộc Vườn quốc gia Kruger, là vùng hội tụ nhiều nhất vẻ đẹp hoang sơ của thiên nhiên Nam Phi. Em cũng tự hào giới thiệu cho tớ về sự sôi động của Port Elizabeth, và hứa rằng sẽ đưa chúng tớ đi chơi nếu có bao giờ quay trở lại. Cách nói chuyện và sự hào hứng của em khiến tớ nhớ về Trevor Noah, một diễn viên hài và người dẫn chương trình Nam Phi nổi tiếng. Cuốn sách Born a Crime của anh là những khái niệm đầu tiên giới thiệu tớ về Nam Phi. Giờ đây, tớ đã có một “Noah khác” làm điều đó rõ ràng, cụ thể, bằng xương bằng thịt cho mình ;)
Chúng tớ chơi thân với các em nhỏ của trường cấp 3 Port Elizabeth. Ngày chia tay, chúng tớ tin mình sẽ gặp lại nhau, và sẽ gặp ở nơi các em sinh sống. Vậy là có hướng dẫn viên du lịch miễn phí rồi.
—
“Apartheid luôn là một bóng ma của quá khứ” — Mark, người bố của đoàn, đã nói với chúng tớ như vậy trong một chuyến đi. “Có nhiều người đã sống qua cái thời kỳ trên và đang kể lại những câu chuyện về nó ở thời hiện tại như một chứng nhân”. Chế độ phân biệt chủng tộc nảy mầm từ giây phút thực dân Hà Lan tiến hành đào xới lục địa đen, và thi hành những biện pháp kinh tế từ thế kỷ 19. Biện pháp cưỡng chế của thực dân và sự nhu nhược của chính phủ đã sinh ra các đạo luật hà khắc nhắm đến chính người dân bản địa. Không ở đâu mà nạn phân biệt màu da lại khủng khiếp và được thừa nhận công khai bằng luật pháp và quy định như ở Nam Phi, nơi những người da đen bị coi là những con người hạ đẳng, thậm chí không được coi là con người. Người da đen bị đẩy ra khỏi rìa những thành phố, tạo thành các khối nhà tạm bợ cho đến tận ngày hôm nay. Việc ra vào thành phố khi đó cũng phải được sự cho phép của chính phủ và bị quản lý bằng giấy phép.
Tàn tích Apartheid như một con voi ở trong phòng, luôn ở đó và ít ai nhắc tới. Các em nhỏ thuộc màu da nào sẽ quen nói chuyện với màu da ấy hơn. Giáo dục và hoàn cảnh gia đình cũng cho phép người trẻ da trắng tiếp cận nhiều nguồn thông tin, bạo dạn và tự tin hơn so với các bạn da màu đồng trang lứa. Khoảng cách giàu nghèo là có thật. Xe vừa lăn bánh ra khỏi một khu dân cư đông đúc thì ngay liền kề sẽ là những mái nhà tranh xập xệ. Tay cầm lái, cô Janet thỉnh thoảng sẽ chỉ cho chúng tớ những mỏ quặng ở bên đường. Tài nguyên khoáng sản cuối cùng vẫn là một lời giải thích thoả đáng nhưng đắng cay dành cho một thời kỳ tăm tối của loài người.
Gần về cuối hành trình, chúng tớ được Nunu, kiểm lâm dẫn đoàn đi rừng dẫn tới thăm làng dân tộc Zulu. Sau khi tạm biệt Nunu, Zama là người đón tiếp đoàn chúng tớ vào đêm hôm đó. Gia đình Zama là một gia đình Zulu 6 người, có baba (bố), mama (mẹ), gogo (bà), Zama và em của Zama. Cái bắt tay thân tình và câu chào “Yabonga” (Hello, Welcome Home) khiến chúng tớ cảm thấy thật sự được chào đón như ở nhà. Sau màn chào hỏi, tự nhiên chúng tớ tìm được baba, mama và gogo trong một cái làng dựa lưng vào núi.

Zama là cô con gái lớn trong gia đình, làm du lịch và phiên dịch viên khi khách đến thăm nhà. Baba, Mama và Gogo không nói tiếng Anh, chỉ nói tiếng Zulu. Zama là cầu nối giữa chúng tớ và cả gia đình. Trong lúc chuẩn bị cho bữa ăn tối, cô Janet có chia sẻ với chúng tớ về các dân tộc và ngôn ngữ ở Nam Phi. Điều khiến tớ nhớ nhất là có tộc người Khao vẫn sống ở trong rừng và giao tiếp với nhau bằng âm thanh “tặc tặc” của lưỡi.
Tối hôm đó, chúng tớ muốn đi mua một chút nước ngọt và bia cho buổi tối lửa trại. Zama dẫn chúng tớ băng qua con đường làng dài và tối tăm, tay giơ đèn pin và sang cái “cửa hàng tạp hoá” cách đó 5–7 phút đi bộ. Gọi là cửa hàng tạp hoá nhưng thực ra đó là nhà của một người dân bản địa, không biển hiệu, ai biết thì sẽ tự rẽ vào mua. Về nhà cùng các mẹ các chị bê đồ ăn ra lửa trại mà bỗng cảm thấy thân thương như ở quê nhà.
Trong niềm vui nơi xứ người, đôi khi cũng có những chi tiết khiến tớ thoáng buồn. Ở trong bản làng ấy, nam và nữ ngồi ở hai bên khác nhau. Đĩa ăn, trang phục của nam giới cũng được trang trí cầu kỳ hơn. Người đàn ông là người có tầm ảnh hưởng gần như tuyệt đối trong gia đình, sau đó là gogo.
“Đã đến lúc chúng ta thôi nói về văn hoá như một sự biện minh. Không có một thứ văn hoá nào nên đề cao khủng hoảng sắc tộc, bất bình đẳng nam nữ hay hạn chế quyền con người và giáo dục.” — Janet nói với tớ như thế vào buổi sáng hôm sau, trước khi chúng tớ rời làng và đi đến địa điểm kế tiếp.
Tớ tự biết rằng nơi mình đang sống không nói hết lên cả bức tranh của Nam Phi. Nhưng trong thâm tâm tớ vẫn không khỏi băn khoăn, ở một nơi đói nghèo kéo tụt tri thức xuống thấp thì người dân còn khổ đến bao giờ? Lúc đó, tớ lại nghĩ về Việt Nam, và tự an ủi mình vì một sự thay máu của thế hệ trẻ trong tương lai. Thế hệ mình đã thôi cực đoan vì sự chia rẽ hai miền, các nhãn dán tiêu cực “người Thanh Hoá”, “người Nghệ An” cũng dần biến mất trong các hội thoại. Chúng mình hiếu học hơn, quan tâm nhiều hơn câu chuyện sau luỹ tre làng và phấn đấu đi ra thế giới. Nam Phi độc lập năm 1994, và tớ tin họ còn một chặng đường khá dài để đi tiếp. Những đứa trẻ trong nhà còn được gửi đi học, còn được tới trường và tiếp xúc với giáo dục, lúc ấy thì niềm tin vẫn sẽ còn. Tất cả chỉ là vấn đề thời gian thôi.
Bên đống lửa trại tận hưởng những điệu nhảy, lời hát của Zama, đôi mắt tớ nhìn thấy những người trẻ Nam Phi mấy hôm trước. Các em gửi gắm cho nhau những ánh mắt hồ hởi và những cái khoác vai đoàn kết xuyên suốt hội nghị. Đêm lửa trại, cũng chính các em đã đứng lên cầm lấy “talking stick” (cây gậy chia sẻ) để rút ruột rút gan kể về lo lắng cho đất nước, ước mơ thay đổi và câu chuyện vươn lên. Các em vào thăm đoàn Việt Nam để phỏng vấn chúng tớ làm tư liệu cho bài báo tốt nghiệp khoá học chụp ảnh National Geographic Photography Camp. Một cơ may lớn hơn, chúng tớ đã được gặp Sibusiso Vilane, người đàn ông đã hai lần chinh phục Everest, cảm nhận niềm hạnh phúc của anh khi giương cao ngọn cờ Nam Phi trên nóc nhà thế giới.
Và đúng như Gwen nói, “Tớ có thể rời đi, nhưng tớ lỡ yêu quê hương này quá mất rồi!”
Yebosaithanya! Có ai đang nghe tiếng lòng của chúng tôi hay không?
CHƯƠNG III: Hãy cứu lấy những kẻ săn trộm
Tớ đã thấy Hà Nội — Quảng Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hồ Gươm tại Nam Phi, nhưng đó là trên những thước phim tài liệu. Stroop: Journey Into the Rhino Horn War kể lại câu chuyện của hai nhà làm phim nữ người Nam Phi trên hành trình khám phá tận gốc đường dây mua bán động vật hoang dã từ Phi sang Á. Hà Nội, thủ đô Việt Nam là bối cảnh chính của nửa sau bộ phim, khi nhân vật đóng giả làm một người mua sừng tê giác. Từ phố cổ cho đến các vùng ven đô, các hoạt động mua bán sừng tê giác hoạt động hết sức sôi nổi. Nhận ra cậu “cò mồi” quen thuộc, những người bán hàng đon đả mời chào giảm giá mạnh tay, đặc biệt dành cho khách hàng Trung Quốc.
Việc tiêu thụ sừng tê giác ở Việt Nam đã gây ra một sự mất cân bằng sinh thái lớn ở châu Phi một thập kỷ trở lại đây. Chỉ riêng năm 2015, một ngôi làng ở Việt Nam đã bị buộc tội buôn lậu một lượng lớn hàng hoá làm từ động vật hoang dã với giá trị lên tới 42 triệu USD, trong đó bao gồm các bộ phận lấy từ 600 con tê giác. Con số này bằng với tổng số lượng tê giác bị săn bắn tại Nam Phi hàng năm. Việt Nam, như các quốc gia châu Á khác, vun đắp một hệ thống niềm tin sai lệch rằng tê giác có thể chữa ung thư và đem lại vận may, quyền lực cho người sở hữu. Nằm tại cửa ngõ vào đất nước tỉ dân, Việt Nam được coi là sân sau của Trung Quốc và cùng Trung Quốc dẫn đầu bảng xếp hạng những đất nước buôn bán phạm pháp động vật hoang dã. Khối ASEAN cũng được “hưởng lợi” từ Việt Nam và đóng góp đáng kể vào mức độ suy thoái của hệ sinh học Nam Phi.
Nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác tăng vọt tại Việt Nam là nút kích nộ mở rộng phạm vi săn bắn trái phép tại Châu Phi. Bắt nguồn từ Zimbabew, một quốc gia đối mặt với những thách thức về chính trị và xã hội, nạn săn bắn tê giác lan rộng ra Namibia, Nam Phi và Kenya. Số lượng săn bắn phạm pháp đạt đỉnh điểm vào năm 2015, cũng là con số cao nhất trong vòng hai thập kỷ. Mặc dù tỉ lệ này được ghi nhận có xu hướng giảm trong thời gian gần đây, tuy nhiên điều đó chỉ chứng minh rằng số lượng tê giác đã giảm đến mức không còn có thể thoả mãn nhu cầu của con người.

Bước ra khỏi Apartheid, Nam Phi rơi vào cuộc chiến tranh thời hiện đại của những con bài kinh tế. Nấp dưới những hình ảnh “tranh cử”, “vì phúc lợi của người dân”, một bộ phận lớn những lãnh đạo Nam Phi đã bị cáo buộc tham nhũng, thậm chí bòn rút tiền từ ngân hàng để làm lợi cho chính bản thân mình. Những nguồn tài trợ đầu tư vào xây dựng vườn quốc gia cũng trở thành mục tiêu trục lợi cho bộ máy chính quyền đang trên đà mục ruỗng. Bẫy tiền tệ với tham vọng hình thành con đường tơ lụa mới của Trung Quốc đang đặt những áp lực tài chính và chủ quyền lên quốc gia châu Phi này. Việc chính phủ hợp pháp hoá săn bắn tê giác và trao đổi sừng tê giác trong nội địa cũng sẽ để lại những kẽ hở để tuồn sừng tê giác một cách dễ dàng hơn ra quốc tế, nhất là khi sự minh bạch của chính phủ vẫn là một dấu hỏi lớn.
—
Hôm đó, tớ đã nhìn thấy cô Janet khóc.
Trong hành trình trải nghiệm thực tế các hoạt động bảo tồn, đoàn Việt Nam chúng tớ đã được gặp gỡ Đơn vị chống Săn trộm — Anti Poaching Unit và được giới thiệu về Dehorning. Đây là hoạt động cưa đi một phần sừng tê giác, làm giảm giá trị của sừng và từ đó đưa tê giác ra khỏi tầm ngắm của bọn săn trộm bất hợp pháp. Nga, chị bạn của tớ trong hành trình, đã có một bài viết rất giàu thông tin về nỗ lực bảo tồn này. Các bạn có thể xem tại ĐÂY.

Dù dehorning được ghi nhận đã giúp giảm thiểu một lượng lớn tê giác bị săn bắn trong vườn quốc gia, đây vẫn được coi là một hoạt động tạm thời bởi yêu cầu cao về nguồn tiền, nhân lực và máy móc hỗ trợ. Chúng ta vẫn đang đứng ở phía bị động của cuộc chiến — tìm cách né tránh, giảm thiểu khả năng những con tê giác bị săn trộm. Và ai biết được, thiếu đi những cái sừng như vậy, những con tê giác sẽ phải đối mặt với những thách thức sống còn nào trong thiên nhiên?
“Đây là hoạt động con người sửa chữa lỗi lầm của con người”. — Janet nói. Và con người, trong những nỗ lực sửa chữa lỗi lầm, đã trở thành nạn nhân của một cuộc chiến phát động từ Á sang Phi.




Việt Nam được biết tới là cây cầu kết nối các hoạt động mua bán động vật hoang dã bất hợp pháp. Tại các quốc gia châu Phi, một lượng lớn người châu Á, bao gồm Việt Nam, sinh sống và vươn các vòi rồng buôn lậu ra toàn thế giới. Năm 2018, Cơ quan Điều tra Môi trường công bố cuộc điều tra kéo dài hai năm vạch trần đường dây tội phạm xuyên quốc gia của tội phạm Việt Nam. Các băng đảng sử dụng nhiều phương thức che giấu tinh vi, chia hàng hoá vận chuyển trên nhiều tuyến đường và được o bế bởi một hệ thống tham nhũng từ trên xuống dưới.
Đây không phải trò chơi chỉ với hai điểm đầu cuối cung cầu. Đằng sau sự ngây thơ của người tiêu dùng và người săn bắn là một đường dây quan hệ chằng chịt — kẻ săn trộm, các băng đảng, kẻ giao dịch, xuất khẩu và cuối cùng mới đến tay người tiêu dùng. Bộ phim tài liệu The Poaching Pipeline còn cho thấy sự nhúng tay của chính phủ châu Phi vào việc “thuận tiện hoá” quá trình thu mua sừng tê giác ngay trên chính mảnh đất quê hương mình. Kẻ săn trộm sẽ được trả 3000 đô cho mỗi chiếc sừng tê giác, đủ để hỗ trợ gia đình mình trong vòng hơn 1 năm. Những tên tội phạm quốc tế sẽ bán chiếc sừng đó vào châu Á với giá 300 000 đô, sử dụng số lãi kiếm được tiếp tế cho các hoạt động mua bán ma tuý, buôn bán người và thậm chí là khủng bố.
Đồng tiền, sự thiếu thốn về giáo dục và khoảng cách giàu nghèo đã đẩy những con người, dù khác màu da và tiếng nói, vào cùng một cuộc khủng hoảng. Trong thời khắc đau bệnh, một số trong chúng ta, nếu không phải tất cả, cũng sẽ tìm mọi cách có được sừng tê giác trị bách bệnh cho người thân như một lựa chọn tâm linh cuối cùng. Ngược lại, đằng sau tấm khăn che mặt ở châu Phi có thể là những ông bố, bà mẹ, người chị, người anh, những người khát khao đưa gia đình vượt ra khỏi bóng đen của đói nghèo dù có phải hi sinh tính mạng của mình. Lựa chọn rời bỏ quê hương với những cơ hội nơi xứ người rơi vào tay của tầng lớp khá giả. Họ chọn ở lại, bởi nếu họ rời đi, thì liệu có ai đảm bảo một cuộc sống tốt đẹp hơn cho con cái và người thân của họ hay không. Câu chuyện của họ là cái ăn của ngày hôm nay. Câu chuyện của thế giới là sự bất ổn về sinh thái, chính trị và xã hội.
Tham dự những chương trình như World Youth Wildlife Summit, tớ được truyền cảm hứng khi biết rằng mọi người xung quanh đều đang nỗ lực vì một mục tiêu chung. Người Nam Phi không chọn cách đứng ngoài, chỉ ra những bất ổn và cho rằng mình vô can. Các em, các bạn, các anh các chị đều không chọn làm một người tốt im lặng.
Trên chiếc xe gia đình, cô Janet kể về một hành trình đầy hạnh phúc khi rời một công ty luật hàng đầu thế giới bên Anh để trở về quê hương. Cùng với cộng sự, cô điều phối các dự án bảo tồn thông qua giáo dục ở châu Phi và trên thế giới. Những người châu Á trong đoàn du lịch như chúng tớ đã chia sẻ một tình yêu với thiên nhiên Nam Phi và đem câu chuyện của mình ngược trở lại cộng đồng mà họ thuộc về. Các em học sinh Nam Phi, trong năm học mới này, cũng sẽ đón nhận các chương trình trải nghiệm thiên nhiên với quỹ tài trợ của vườn quốc gia và các tổ chức phòng chống tội phạm săn bắn động vật hoang dã. Các mô hình giáo dục thiên nhiên như Khu Vườn Rau Quả (Vegetable Gardens) được nhân rộng cho học sinh tiểu học, dạy các em về các kỹ năng sinh tồn và các kiến thức môi trường trong thực tế. Những hoạt động trên nhằm giúp con người tìm lại sự kết nối căn bản với mẹ Thiên Nhiên.
Về chính trị xã hội, các dự án nâng cao chất lượng sống người dân lần lượt ra đời. Khu vực xung quanh rừng quốc gia, từ một địa điểm nhạy cảm để những kẻ săn trộm trú ngụ, giờ đây đã trở thành các làng nghề truyền thống. Các khu Game Lodge và các công ty lữ hành được đầu tư để liên kết với người dân bản địa như gia đình Zama để tận dụng lợi thế ngành du lịch châu Phi. Các em học sinh tại trường học địa phương đã có những hoạt động gây quỹ bao tồn động vật hoang dã. Thậm chí có một đoàn học sinh còn quyên góp đủ tiền để đi ra bến xe khách gần nhà và lên máy bay bay sang Nam Phi tham dự hội thảo. Các nhà hoạt động chính trị xã hội cũng đã có những hành động gắn kết công dân, là cầu nối dàn xếp các cuộc gặp gỡ giữa người lao động và chính quyền để họ hiểu thêm quyền và tiếng nói của mình.


Gần đây, BBC công bố danh sách 100 người phụ nữ có tầm ảnh hưởng trên thế giới. Việt Nam có hai đại diện lọt vào danh sách trên, trong đó có Trang Nguyễn với vai trò là một nhà bảo tồn động vật hoang dã. Trong Stroop, Trang đóng giả làm một con buôn châu Á đi vào các khu chợ Nam Phi để tìm mua sừng tê giác, từ đó giúp cảnh sát triệt phá một mắt xích trong đường dây buôn bán động vật hoang dã trái phép. Trang là hình ảnh của một người trẻ Việt Nam có tâm và có tầm, đại diện cho những người trẻ Việt vẫn đang hàng ngày cùng nhau tạo ra những thay đổi tại địa phương và thu hút sự chú ý quốc tế.




Ở Việt Nam, có lẽ chúng mình đã nghe quá nhiều về số lượng tê giác ngày một giảm sút ở trên địa cầu. Sự xa rời về địa lý và khác biệt về giống loài đôi khi khiến chúng ta có một điểm vênh về cảm xúc với các loài động vật đang ở cách xa hàng nghìn kilomét. Giữa những bộn bề của cuộc sống, các văn phòng kính và những toà nhà cao tầng, cũng là bình thường và dễ hiểu nếu như một người Việt Nam, một người châu Á cảm thấy mã văn hoá của mình lạc lõng giữa những khái niệm như “rừng quốc gia”, “tê giác”, “hổ beo”,…
“Sẽ có ai đó làm việc này giúp mình thôi.” Và cuối cùng, không có nhiều người thực sự làm như chúng ta vẫn nghĩ. Viễn cảnh chung đã xảy ra với ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, và những gì chúng ta thấy là các biến đổi cực đoan trong thời gian gần đây.
Trong chúng ta, không phải ai cũng sẽ là kiểm lâm, nhà bảo tồn hay những nhà hoạt động xã hội. Tớ tin chúng mình đều có đam mê và ước vọng riêng, và mỗi ngày chúng mình đều cố gắng từng chút một để được hạnh phúc. Tớ chỉ mong nhân cơ hội này chia sẻ rằng, mỗi hành động bất cẩn của chúng ta đều nắm quyền sinh sát đối với một điều gì đó. Hôm nay là con cá chết ngạt trong túi ni lông. Ngày mai là một con tê giác với vết cắt loang lổ máu trên mũi. Và cuối cùng, một ai đó sẽ nằm xuống dưới hòn tên mũi đạn của một ai đó.
Chúng mình hãy cố gắng là những công dân có đủ thông tin, những informed citizens trước mọi quyết định của bản thân. Với những điều đang đọc, làm hoặc sắp nói ra, hãy nghĩ xem nó có phải điều đúng đắn hay không, nó có gây tổn hại đến ai/thứ gì không, và cuối cùng, nó có phải điều tử tế không. Lần tới bạn mua một cái bàn, hãy nghĩ xem các nguyên liệu đầu vào của nó là gì, quá trình xử lý ra sao và hành trình đến tay người tiêu dùng như thế nào. Tớ nghĩ như vậy sẽ giúp chúng mình có một cuộc sống bền vững hơn. Dù có làm ngân hàng, NGO hay các tổ chức chính phủ, chúng mình đều chia sẻ một bầu khí quyển và một hệ sinh thái chung. Trước cái chết hay sự sụp đổ của tự nhiên, mọi thành phần, tầng lớp xã hội đều “được” đối xử công bằng và bình đẳng.
Hãy cứu lấy những người thợ săn.
#savethepoachers
—
Lời kết
3h sáng ngày 30/9, giờ địa phương, tớ tỉnh dậy tại một hostel gần biển Ballito. Những làn gió cuối đông đầu xuân thổi mát lạnh. Đêm hôm trước là lần đầu tiên tớ được thò chân dưới làn nước của Ấn Độ Dương, nước biển và cơn mưa rét buốt cả thân thể.
Mọi người bắt đầu lộc cộc xách đồ và vali đã sắp gọn gàng từ tối hôm trước ra xe. Bắt tay anh chủ nghệ sỹ của hostel, đoàn chúng tớ lái xe ra sân bay King Sara Airport tại Durban Chúng tớ trao vội những cái ôm tạm biệt cho Janet, rồi cùng nhau đi qua cửa hải quan bay về Johannesburg, trung chuyển tại Doha, sau đó nối chuyến về Hà Nội. Vẫn là chuyến bay 24h đó, nhưng chúng tớ trở về với một sự bình tâm và sẵn sàng cho những dự định mới. Mọi người không nói chuyện với nhau nhiều, vì chúng tớ biết hai tuần đã đủ để nói những điều cần giãi bày. Chúng tớ sẽ gặp nhau ở những nơi mới, cùng những con người mới và làm nhiều điều tốt đẹp hơn. Vì sẽ không phải “tạm biệt” (goodbye), mà là “hẹn gặp lại” (see you later).
Khi những dòng này được viết ra, bản thân tớ cũng không quá rõ ràng về những dự định mình sẽ làm với công cuộc bảo tồn của nhân loại. Có lẽ, tớ sẽ không là một nhà bảo tồn. Nhưng tớ tin, tớ đã có đủ một động lực để có thể nói về bảo tồn và chia sẻ những kiến thức nhỏ nhoi như thế này cho mọi người xung quanh. Ít nhất, nếu gặp một ông hàng xóm nào doạ bán sang Nam Phi, tớ có thể vỗ ngực nói tớ đã sang bên đó và thật sự đang nghĩ cách để tạo ra những đổi thay tại chính quê hương của mình.
Tớ sẽ luôn biết ơn về hành trình vừa qua và những người đã giúp cho “ý tưởng như đùa” này trở thành sự thật. Tớ có thể quay trở lại Nam Phi lần sau, đến những nơi giàu đẹp hơn và rảo bước tại các khu phố sầm uất nhất. Nhưng tớ sẽ khó có một gia đình đông anh chị em và hai bậc phụ huynh “siêu ngầu” sẵn lòng dẫn tớ đi dọc đất nước, được nhìn thấy một bức tranh thiên nhiên và xã hội đa dạng và đầy biến động của Nam Phi.




Hẹn gặp lại các cậu ở Nam Phi nhé. À không, tại một nơi nào đó trên trái đất này cũng được.
Ngiyabonga, Thank you và Cảm ơn!
