Có gì hay ở các mô hình Accelerator trên thế giới?

Bài trước mình đã chia sẻ về vai trò của Accelerator trong hệ sinh thái khởi nghiệp. Bài viết này mình chia sẻ thêm về các loại hình Accelerator thường gặp dựa trên kinh nghiệm quan sát, tìm hiểu các báo cáo và những cuộc nói chuyện với mấy chục accelerator khác nhau trên thế giới.

Dù ở Việt Nam không có nhiều accelerator để startup có thể chọn lựa nhưng startup có thể tham gia một số regional/global accelerator ở Sing, Malaysia hay Thái. Đó cũng là cơ hội để startup khám phá thị trường các nước và học thêm từ hệ sinh thái khởi nghiệp ở các nước trong khu vực.

Accelerator có thể được chia thành các loại hình khác nhau dựa vào:

  1. Các tổ chức đứng sau accelerator:

Accelerator có thể được xây dựng bởi các tổ chức chính phủ, các trường đại học và các community builder khác với mong muốn xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, thúc đẩy tinh thần đổi mới sáng tạo. Nhiều quỹ đầu tư cũng xây dựng accelerator riêng với mong muốn “gieo mầm” và “nuôi dưỡng” để có thể tìm được các startup tốt. Ngoài ra các công ty lớn cũng bắt tay vào hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp như một cách để tìm kiếm hướng hợp tác chiến lược và những ý tưởng đột phá sáng tạo trong lĩnh vực họ quan tâm.

Ở Việt Nam sự quan tâm của các “ông lớn” vào mảng startup vẫn còn hạn chế, nhưng ngay ở nước láng giềng Thái Lan, phong trào này hết sức mạnh mẽ. Dtac, một trong top 3 nhà mạng ở Thái Lan, đã rất thành công với Dtac Accelerator — top accelerator đã đào tạo ra 1 dàn startup tên tuổi. SCB, AIS, True, Krungsri bank …một dàn các công ty lớn, chủ yếu nhà mạng và ngân hàng, cũng đều có accelerator riêng. Tham khảo thêm danh sách các accelerator Thái ở đây.

Ở Israel, các tập đoàn công ty đa quốc gia như Coca Cola, Microsoft, eBay, IBM, Kimberly-Clark …cũng lập ra accelerator và đã rất thành công. Có cả một list các corporate accelerator ở đây.

Microsoft Accelerator Tel Aviv (hình sưu tầm)

Ngoài ra, đa phần các accelerator trên thế giới đều nhận được rất nhiều sponsor từ các công ty lớn có tầm nhìn. Với MassChallenge, qua nhiều năm hoạt động, họ có đến tầm 160 corporate partners, từ những global partner như P&G, Honda, BCG, PWC, Deloitte,… đến các công ty ở địa phương. Quyền lợi của các công ty này, không chỉ là việc xây dựng thương hiệu, mà còn là các cơ hội hợp tác chiến lược với startup, tìm kiếm những ý tưởng sáng tạo. Đã có rất nhiều “thương vụ” thành công giữa corporate và startup được mai mối bởi các accelerator. Ngoài ra, đó là cơ hội giúp phát triển “entrepreneurial mindset” của nhân viên. Làm việc ở MassChallenge, tôi thường xuyên gặp nhân viên của các công ty lớn đến tham gia các buổi mini demo day dành riêng cho từng công ty, hoặc tham gia làm speaker, mentor, advisor tư vấn chuyên môn về từng mảng cho startup và tham gia các event pitching, startup showcase như một cách để giúp họ “entrepreneurial" hơn.

Entrepreneurial mindset cần có ở mọi doanh nghiệp chứ không chỉ startups

2. Dựa trên các giai đoạn phát triển của startup:

Accelerator có thể chọn tập trung hỗ trợ các startup ở một giai đoạn nhất định: giai đoạn đã có prototype, hoặc đã validate được nhu cầu thị trường, hoặc đạt được một mức doanh thu nhất định, hoặc chỉ nhận startup đã nhận vốn đầu tư… Từ đó, mục tiêu “đầu ra” của mỗi accelerator cũng sẽ khác nhau. Mỗi thị trường và mỗi giai đoạn phát triển của ecosystem cần một loại hình accelerator khác nhau. Với hệ sinh thái social impact startup ở Việt Nam, khi số lượng social impact startup chưa nhiều, chưa có đủ các chương trình đào tạo khởi nghiệp bài bản, thậm chí nhận thức về các mô hình kinh doanh bền vững song song với tạo tác động xã hội giai đoạn vẫn chưa phổ biến thì rất cần các accelerator tập trung hỗ trợ startup giai đoạn prototype.

LearnLaunch và các chương trình cho các giai đoạn khác nhau của startups

3. Lĩnh vực tập trung:

Accelerator có thể mở rộng nhiều ngành chung chung cho tất cả tech startup, hay tập trung vào social impact, hay chỉ mảng nông nghiệp/ giáo dục/ hardware, … tùy vào mục đích và lợi thế của accelerator.

Một vài ví dụ về accelerator đi sâu vào một mảng như Learnlaunch, chỉ tập trung duy nhất vào mảng edtech, hay như Village Capital, mỗi năm tổ chức nhiều chương trình, mỗi cohort tập trung vào 1 chủ đề khác nhau: giáo dục, nông nghiệp, năng lượng…, đều xoay quanh việc làm sao để tao ra social impact. Khi tập trung sâu vào một lĩnh vực, accelerator có thể có những hỗ trợ chuyên sâu cho startup, như AirMaker, một accelerator chỉ tập trung vào hardware nên chương trình được thiết kế đặc biệt dành riêng cho các startup hardware, tổ chức chuyến đi sang Trung Quốc 1 tháng để tìm kiếm đối tác. Hay như Learnlaunch có sẵn network với tất cả các công ty lớn trong mảng giáo dục và những báo cáo, chính sách, framework…chỉ dành riêng cho các công ty edtech.

Cũng có accelerator tập trung vào một đối tượng nhất định như WINLab ở Boston chỉ dành cho founder nữ. Một số accelerator khác như MassChallenge thì mở rộng cho startup ở tất cả các giai đoạn và các ngành nghề.

Hiện ở Việt Nam, có các accelerator chủ yếu tập trung vào tech startup như VIISA, Founder Institute…và chưa có một accelerator nào thực sự tập trung vào mảng social impact, đã bắt đầu có một vài chương trình tập trung vào nông nghiệp hay fintech nhưng vẫn còn hạn chế. Một phần lý do có thể là nếu tập trung sâu vào một lĩnh vực thì chắc … không đủ số startup chất lượng tốt để tham gia. Vấn đề này liên quan đến bài toán đào tạo nền tảng kiến thức và kĩ năng khởi nghiệp căn bản nhất cho những entrepreneurs ở giai đoạn ý tưởng để họ có thể đến được bước prototype, sẵn sàng để tham gia accelerator. Seed Planter cũng nhận ra “entrepreneurs’ skill gap" này nên bắt đầu bằng chuỗi các training như Seeding Camp cho những bạn giai đoạn ý tưởng.

Một buổi training của Seed Planter cho các bạn idea stage

4. Quy mô:

Quy mô của mỗi chương trình tùy thuộc vào mục đích, số lượng startup sẵn sàng tham gia, và các yếu tổ về vận hành. Có những accelerator mỗi batch nhận tới 100 startup như Masschallenge ở Boston hay MassChallenge Israel có tới 55 startup/batch, nhưng đa phần các accelerator khác thường chỉ nhận 10–15 startup/ batch.

Số lượng startup trên mỗi batch đông đồng nghĩa với việc network của alumni rất lớn, thu hút được nhiều partner/sponsor trong đa dạng các lĩnh vực khác nhau, các event showcase và demo day hoành tráng và thu hút nhiều người, nhà đầu tư, nhiều báo chí nhưng cũng có những hạn chế về việc khó đi sâu sát để có thể hỗ trợ từng startup và mối quan hệ giữa các founders trong cùng batch có thể không khăng khít bằng.

5. Cách thức tổ chức, cấu trúc chương trình và nội dung:

Một hình thức thường thấy ở các accelerator là tổ chức các workshop định kỳ hàng tuần trong suốt thời gian accelerator như ở Blank Center tại Babson thì có How2Tuesday mỗi tuần, ở MassChallenge thì có Monday — Curriculum day. Nhưng cũng có những accelerator như Village Capital lại tổ chức intensive training chỉ 1 tuần/ 1 tháng. Topic của từng workshop có thể được lên kế hoạch từ trước, như ở MassChallenge là 12 tuần, tương ứng với 12 topic: business plan, marketing, fundraising,…và cũng có thể linh hoạt tùy thuộc vào nhu cầu của entrepreurs như ở Learnlaunch.

Workshop về Impact Lean Canvas tại Seeding Camp

Từng accelerator cũng quyết định là các workshop đó có bắt buộc hay không. Program manager ở Barclays Accelerator (powered by Techstars) ở Israel chia sẻ một kinh nghiệm rút ra sau vài năm chạy chương trình là số lượng workshop nhiều có thể khiến entrepreneurs bị quá tải và có tác dụng ngược. Hiện tại, chỉ tầm 20% workshop ở Barclays Accelerator là bắt buộc. Còn lại, entrepreneurs tự quyết định có đăng ký các workshop hay không, tùy thuộc nhu cầu. Một khảo sát trong báo cáo “What’s Working in Startup Acceleration” cũng chỉ ra rằng thời gian startups dành cho các hoạt động của accelerator có thể làm giảm performance của các startup, nên cần có một sự cân bằng nhất định.

6. Hình thức Mentorship:

Đa phần các accelerator thu hút nguồn mentor từ bên ngoài, là những chuyên gia trong các lĩnh vực, nhà đầu tư, hoặc entrepreneurs thành công. Nhưng cũng có những accelerator có in-house mentors như Bonbillo ở Boston, trực tiếp theo sát các startups.

7. Có đầu tư hay không? Có lấy equity hay ko?

Bản chất nguồn thu của nhiều accelerator cũng khá giống VC, họ đầu tư vào startups và lấy equity, thường 5–10%. Sau 3–7 năm họ exit và lấy capital gain. Nhưng đó là một con đường khá dài và chông gai, vì accelerator đầu tư vào giai đoạn rất sớm nên cần kiên nhẫn chờ đợi. Một số accelerator khác cho grant và không lấy equity, MassChallenge là một ví dụ.

Tóm lại, xây dựng một accelerator cũng không khác gì một startup, phải bắt đầu từ việc hiểu nhu cầu người dùng (startups founders), khách hàng và partners (các corporate, funder khác) muốn gì, market (hệ sinh thái khởi nghiệp) đã có những gì… và đâu là lợi thế cạnh tranh. Đó là những bài toán không dễ dàng nhưng nếu làm được sẽ giúp giải quyết không chỉ một hay hai vấn đề xã hội mà thúc đẩy một hệ sinh thái khởi nghiệp, giúp hàng chục, hàng trăm công ty, tạo nên tác động xã hội to lớn.