QUẢN TRỊ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Trong nền kinh tế tri thức như hiện nay, ai nắm giữ được nhiều tài sản trí tuệ thì doanh nghiệp đó có lợi thế lớn trên thị trường. Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, tạo ra các tài sản trí tuệ không thôi chưa đủ mà quan trọng là phải bảo vệ và tối đa hóa lợi ích kinh tế từ các tài sản trí tuệ đó. Do đó, quyền sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng, và trong một số trường hợp còn mang tính sống còn đối với doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp khởi nghiệp với tất cả các nguồn lực từ tài chính đến nhân lực hạn chế thì tài sản trí tuệ, và theo đó là các quyền SHTT có thể được coi là tài sản lớn nhất của họ. Tuy nhiên, do có quá nhiều khó khăn và vấn đề phải đối mặt trong giai đoạn đầu khởi sự kinh doanh, các doanh nghiệp khởi nghiệp còn lơ là và không thực sự quan tâm đến việc quản trị các TSTT của mình. Đây là vấn đề chung của các doanh nghiệp khởi nghiệp trên thế giới và cũng là vấn đề mà các doanh nghiệp khởi sự ở Việt Nam đang phải đối mặt. Do đó, việc nhận thức được tầm quan trọng và xây dựng chiến lược quản trị quyền SHTT phù hợp là cực kỳ quan trọng đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp. Xuất phát từ lý do đó, bài viết này được thực hiện nhằm mục đích cung cấp đánh giá về hoạt động quản trị quyền SHTT của các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam và từ đó đưa ra một số giải pháp giúp tăng cường hoạt động này trong lương lai.

1. Quản trị quyền Sở hữu trí tuệ (SHTT)

1.1. Định nghĩa

Quyền sở hữu trí tuệ có vai trò quan trọng trong việc định hình và cụ thể hóa các tri thức, sáng tạo của cá nhân hay tổ chức (Spruson, D. & Ferguson, N., 2007). Quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố nền tảng cho việc phát triển sản phẩm và dịch vụ, khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển, thương mại hóa các kết quả hoạt động sáng tạo của doanh nghiệp. Từ cấp độ quốc gia hay doanh nghiệp thì quyền sở hữu trí tuệ là phần không thể tách rời của chiến lược đổi mới. Thành công trong chiến lược đổi mới phụ thuộc vào việc sử dụng một cách linh hoạt các cơ chế thị trường và việc khai thác các quyền sở hữu trí tuệ.

Trong nội dung bài viết này, “quản trị” được hiểu với nghĩa rộng nhất là việc doanh nghiệp chủ động điều chỉnh các cơ hội tương ứng với điều kiện thị trường và phân bổ các nguồn lực để đạt được kết quả tốt nhất (WIPO, 2014). Với cách tiếp cận này, quản trị quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là việc tạo lập và bảo vệ các sáng tạo mà công ty tạo ra. Quản trị quyền sở hữu trí tuệ còn phải tìm ra cơ hội tốt nhất trên thị trường để ứng dụng và khai thác các kết quả sáng tạo.

Quản trị quyền sở hữu trí tuệ phụ thuộc các yếu tố riêng của công ty như quy mô (năng lực hay chiến lược đổi mới), các nhân tố tri thức (tri thức ngầm hoặc được hệ thống hóa), các nhân tố công nghệ (đổi mới dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình), các nhân tố ngành (các giai đoạn vòng đời và cơ chế thiết lập quyền…) và môi trường pháp lý của quốc gia (đối tượng bảo hộ theo các cơ chế pháp luật khác nhau) (WIPO, 2014).

1.2. Mục tiêu

Julie Davis và Suzanne Harrison (2001) chia ra 5 cấp độ về mục tiêu của doanh nghiệp khi xây dựng chiến lược quản trị tài sản trí tuệ. Các cấp độ này, được minh họa trong hình dưới đây là một cách phù hợp để đánh giá về mục tiêu của các doanh nghiệp.

Hình 1: Mục tiêu của chiến lược quản trị quyền SHTT

(Nguồn: Julie Davis và Suzanne Harrison, Edison in the Boardroom: How Leading Companies Realize Value from Their Intellectual Assets, 2001)

Các mục tiêu được đặt theo thứ tự từ thấp nhất (nằm ở đáy của hình) đến mục tiêu cao nhất (nằm ở đỉnh) mà doanh nghiệp đặt ra cho chiến lược quản trị quyền SHTT của mình.

- Bảo vệ: Mục tiêu chính của các doanh nghiệp có ở cấp độ này là bảo vệ các thành quả sáng tạo trí tuệ, bảo đảm rằng tài sản trí tuệ của họ không bị xâm phạm, không bị sử dụng, khai thác trái phép cũng như bảo đảm rằng họ không xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể khác. Đối với các doanh nghiệp này, chi phí cho việc xác lập, thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thường khá cao.

- Kiểm soát chi phí: bên cạnh mục tiêu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, các doanh nghiệp ở cấp độ này còn tập trung nghiên cứu tìm ra cách thức tốt nhất để tạo ra, bảo hộ, duy trì và khai thác tài sản trí tuệ của mình với mức chi phí thấp nhất.

- Khai thác lợi nhuận: Doanh nghiệp ở cấp độ này hướng tới các hoạt động chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ và các hình thức khác nhằm khai thác tài sản trí tuệ, hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Liên kết hoạt động: ở cấp độ này, tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được gắn với sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng như một công cụ nhằm liên kết các khâu trong toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

- Công cụ chiến lược: Đây là cấp độ cao nhất của hoạt động quản trị tài sản trí tuệ. Ở cấp độ này, doanh nghiệp đã có một tầm nhìn và chiến lược hoạt động dài hạn, xác định rõ vai trò, vị trí của doanh nghiệp trên thị trường và trong lĩnh vực hoạt động. Họ có thể sử dụng tài sản trí tuệ như một công cụ hiệu quả nhằm tạo ra các giá trị mang tính chiến lược.

Mục tiêu cao nhất trong chiến lược quản trị quyền SHTT không phải là mục tiêu nằm ở đỉnh của hình tam giác ở trên. Điều quan trọng với doanh nghiệp là cần phải xác định được cấp độ phù hợp nhất với điều kiện và tình hình thực tế của doanh nghiệp mình tại thời điểm hiện tại.

1.3. Phương thức quản trị

Không hề có một phương thức quản trị quyền SHTT tiêu chuẩn nào có thể áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp cần xây dựng và phát triển chiến lược quản trị quyền SHTT dựa trên quy mô, lĩnh vực và phạm vi hoạt động của doanh nghiệp mình.

Tuy nhiên, nếu tiếp cận truyền thống từ vòng đời của tài sản trí tuệ, chiến lược quản trị quyền SHTT có thể bao gồm các bước sau:

- Sở hữu và xác lập quyền SHTT

- Thương mại hóa quyền SHTT

- Giám sát và thực thi quyền SHTT

Bên cạnh đó còn một cách tiếp cận chiến lược quản trị sở hữu trí tuệ là dựa vào phạm vi tác động. Theo đó, chiến lược sở hữu trí tuệ gồm chiến lược quản trị sở hữu trí tuệ bên trong và bên ngoài.

- Chiến lược quản trị sở hữu trí tuệ bên trong: gồm các nội dung kiểm toán sở hữu trí tuệ, chính sách sở hữu trí tuệ và chiến lược tạo lập và duy trì sở hữu trí tuệ.

- Chiến lược quản trị sở hữu trí tuệ bên ngoài: gồm các nội dung chiến lược thực thi, chiến lược tình báo cạnh tranh và chiến lược chính sách công.

Cả hai phần bên trong và bên ngoài của chiến lược sở hữu trí tuệ cần phải được thực hiện bên trong doanh nghiệp. Việc tạo ra văn hóa sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp là mục tiêu cuối cùng của việc thực hiện chiến lược sở hữu trí tuệ.

Dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng một chiến lược sở hữu trí tuệ cần có những nội dung cơ bản sau đây:

- Tuyên bố về cam kết của lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp và sự tham gia của các lãnh đạo cao cấp và trung cấp của doanh nghiệp đối với chính sách sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp;

- Mục tiêu tổng quát của chiến lược về sở hữu trí tuệ (phù hợp và phục vụ cho các mục tiêu chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp) chẳng hạn: “tạo dựng (tự tạo ra hoặc mua), bảo hộ, khai thác, sử dụng có hiệu quả tài sản trí tuệ, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp);

- Mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp liên quan đến sở hữu trí tuệ, nếu có thể thì nêu mục tiêu chi tiết liên quan đến từng nhóm đối tượng sở hữu trí tuệ chủ chốt của doanh nghiệp (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu…);

- Kế hoạch hành động (tổng thể) về sở hữu trí tuệ, trong đó chỉ ra chương trình hành động theo thời gian cụ thể để thực hiện các mục tiêu nêu trên;

- Chính sách về các nguồn lực cần có, bao gồm nguồn nhân lực, tài chính và nhu cầu đào tạo cần thiết để thực hiện kế hoạch nêu trên;

- Quy định trách nhiệm thực hiện và phân công thực hiện các kế hoạch;

- Mô tả trách nhiệm cụ thể của bộ phận quản lý tài sản trí tuệ, cơ cấu tổ chức, hoạt động của bộ phận này;

- Quy định các đầu mối phối hợp trong doanh nghiệp liên quan đến hoạt động sở hữu trí tuệ, bao gồm cả các hoạt động nội bộ và ngoài doanh nghiệp;

- Quy định các thủ tục rà soát, xác định thời hạn và cơ chế đánh giá hoạt động quản lý tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp.

2. Quản trị quyền SHTT trong doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam

2.1. Môi trường SHTT tại Việt Nam

2.1.1. Khung pháp lý về quyền SHTT tại Việt Nam

Mặc dù chỉ với hơn ba thập niên hình thành và phát triển, bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) đã và đang là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất của pháp luật ở Việt Nam. Bảo hộ sở hữu công nghiệp lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1981 với việc ban hành Pháp lệnh Đổi mới và Phát minh vào năm 1981 tập trung vào các quyền đạo đức hơn là sở hữu của người sáng chế/ người sáng tạo. Từ năm 1981 đến năm 1989, việc bảo hộ sở hữu công nghiệp ở Việt Nam chỉ có tác động hành chính, mặc dù một số quy định của chính phủ về nhãn hiệu (1982), các giải pháp hữu ích (1988), kiểu dáng công nghiệp (1988), cấp giấy phép sở hữu công nghiệp (1988) (1986) đã được ban hành.

Pháp lệnh Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đã được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 28 tháng 01 năm 1989 đánh dấu bước ngoặt cho luật sở hữu công nghiệp của Việt Nam. Pháp lệnh đã đặt nền móng cho việc bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết kế và thương hiệu trong nước. Theo Pháp lệnh năm 1989, Chính phủ đã ban hành Nghị định 84 HDBT quy định sửa đổi, bổ sung các quy định đối với các đối tượng công nghiệp cụ thể ban hành năm 1990. Pháp lệnh về quyền tác giả năm 1994 quy định mức bảo hộ bản quyền cao hơn.

Một dấu mốc quan trọng khác trong quá trình phát triển thể chế về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam là việc đưa ra Bộ Luật Dân sự, được Quốc hội thông qua năm 1995, có hiệu lực từ ngày 1/7/1996, soạn thảo tất cả các luật hiện hành về dân sự và tạo nền tảng pháp lý cho Quyền sở hữu và quyền công dân. Bộ luật dân sự năm 1995 đã thay thế tất cả các quy định pháp luật về SHTT trước đây, bao gồm Pháp lệnh Bảo vệ SHTT năm 1989 và Pháp lệnh về Bản quyền năm 1994. Để thực hiện, Chính phủ cũng ban hành các văn bản dưới luật tương ứng về sở hữu công nghiệp và bản quyền tác giả. Những thay đổi đáng kể đã được thực hiện theo Bộ luật Dân sự năm 1995 và các quy định thực hiện để đạt được sự tuân thủ Hiệp định TRIPs và các công ước quốc tế khác mà Việt Nam đã tham gia. Sau đó, Bộ luật Dân sự 2005 đã được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 và thay thế Bộ Luật Dân sự 1995 từ ngày 1 tháng 1 năm 2006.

Như vậy, trước khi có Luật SHTT vào năm 2005, các quy định liên quan đến SHTT ở Việt Nam đã được phân tán trên 40 văn bản pháp luật, không hoàn toàn nhất quán và chưa thực sự phù hợp với tất cả các quy định của TRIPS-WTO. Trong các nỗ lực nhằm gia nhập WTO, Việt Nam đã củng cố lại các quy tắc và quy định về SHTT trong nước bằng cách thông qua Luật Sở hữu trí tuệ vào năm 2005 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2006. Luật SHTT 2005 đã được các chủ sở hữu và đại diện pháp lý tại Việt Nam đánh giá là một bước tiến lớn trong việc bảo vệ quyền và tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ của TRIPs. Sau đó, các nghị định và thông tư đã được xây dựng để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Tuy nhiên, sau bốn năm triển khai trên thực tế, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã cho thấy những thiếu sót, trong đó, một số điều khoản không phù hợp với luật pháp quốc tế cũng như không thể thực hiện được. Do đó, những sửa đổi và bổ sung gần đây đã được đưa ra đối với Luật SHTT năm 2005 và được Quốc hội thông qua vào ngày 19 tháng 6 năm 2009. Luật Sở hữu trí tuệ đã sửa đổi có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 với một số thay đổi quan trọng liên quan Quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp cũng như quyền đối với giống cây trồng. Cùng với việc thông qua bản sửa đổi bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ vào năm 2009, các Nghị định và Thông tư triển khai Luật SHTT cũng đã được điều chỉnh cho phù hợp.

Ngoài ra, Việt Nam còn là thành viên của Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp và Thỏa ước Madrid về Đăng ký quốc tế Nhãn hiệu kể từ năm 1949. Viẹt Nam cũng đã trở thành một thành viên của Công ước thành lập WIPO năm 1976 và gia nhập Hiệp ước Hợp tác Patent (PCT) vào năm 1993. Việt Nam không phải là thành viên của Thỏa ước Nice hay Thỏa ước Strasbourg, nhưng đã thông qua Phân loại Hàng hoá và Dịch vụ Quốc tế và Phân loại Sáng chế Quốc tế. Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật vào ngày 26 tháng 10 năm 2004.

Những bước tiến tiếp theo trong việc hội nhập quốc tế bao gồm: Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước Geneva về Bảo hộ các Nhà sản xuất bản ghi âm chống sao chép trái phép, tham gia các tổ chức quản lý tập thể được quốc tế công nhận về các tác phẩm âm nhạc Thành viên của CISAC — Tổ chức Hợp tác Quốc tế về Các Tác giả và Nhà soạn nhạc và BIEM — Văn phòng Quốc tế về Hợp chủng quốc, Tổ chức Quốc tế đại diện cho các Hiệp hội Quyền về Cơ khí vào tháng 11 năm 2005. Việt Nam cũng đã ký kết Công ước Brussels liên quan đến việc phân phối các tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày 12 tháng 1 năm 2006. Nghị định thư Madrid đã có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 11 tháng 7 năm 2006. Bên cạnh đó, với tư cách là thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định Khung ASEAN về hợp tác SHTT vào năm 1996. Khung hiệp định đã cho thấy sự phù hợp với Hiệp định TRIPs và các công ước quốc tế khác làm cơ sở cho hợp tác ASEAN. Theo các hiệp định này, hợp tác trong các vấn đề kinh tế, lập pháp, y tế, giáo dục, và phúc lợi xã hội cũng như phát triển văn hoá và khoa học, bao gồm cả hợp tác trong tất cả các khía cạnh của bảo hộ sở hữu trí tuệ, sẽ tiếp tục được củng cố trong những thời gian tới.

2.1.2. Thực thi quyền SHTT tại Việt Nam

Chỉ số Sở hữu trí tuệ tổng thể của Việt Nam đã tăng từ mức đạt 26% (7.83 trên thang 30 điểm) của năm 2016 lên mức đạt 30% (10,34 trên thang điểm 35) của năm 2017 trong báo cáo nghiên cứu Nguồn gốc đổi mới của Phòng Thương Mại Mỹ. Sự gia tăng này phản ánh những ảnh hướng tích cực của việc ký kết hiệp định TPP và tình hình hoạt động khả quan của một số chỉ tiêu mới, bao gồm bảo hộ kiểu dáng công nghiệp và khả năng thương mại hóa tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, mặc dù năm 2016 đã cho thấy sự chú trọng hơn của Chính phủ đối với tài sản trí tuệ, những nỗ lực chung vẫn còn hạn chế so với quy mô và mức độ của các vấn đề còn tồn tại.

Biểu đồ 1: Chỉ số Sở hữu trí tuệ tổng thể của Việt Nam (2017)

(Nguồn: Global Intellectual Property Center, 2017)

So sánh về chỉ số Sở hữu trí tuệ tổng thể của Việt Nam năm 2017 là 10,34, xếp thứ 37/45 nước, thấp hơn mức trung bình của 45 nước là 15,39 và mức trung bình trong khu vực là 17,64. Trong các chỉ số đánh giá về sở hữu trí tuệ, chỉ số cao nhất là nhãn hiệu, quyền tác giả được cho là thấp nhất do mức độ xâm phạm quyền tác giả của Việt Nam được cho là nghiêm trọng. Bảo hộ quyền SHTT tại Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế do tỷ lệ hàng giả, hàng nhái, phần mềm không bản quyền tại Việt Nam còn cao, cùng với thực trạng sử dụng các biện pháp hành chính, dân sự và hình sự trong bảo vệ quyền SHTT không hiệu quả.

Những điểm mạnh

· Đã hình thành khung pháp lý và cách thức giải quyết các trường hợp xâm phạm, đặc biệt hiệu quả trong trường hợp bảo hộ nhãn hiệu

· Đã có một số cải thiện trong việc bảo hộ tên miền và chống lại các nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn cho hàng hoá không giống nhau

· Khung pháp lý cơ bản để thực thi quyền Sở hữu trí tuệ, với sự phối hợp của các cơ quan hải quan theo chức năng

· Sự công nhận rộng rãi hơn và hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ (ví dụ như Chương trình 168 và bảo hộ và thực thi quyền SHTT trong các Hiệp định tự do thương mại thế hệ mới (như Việt Nam- EU FTA, Hiệp định TPP); Nếu được thực hiện, khuôn khổ pháp luật về SHTT tại Việt Nam có thể được tăng cường đáng kể

Những điểm yếu

· Bảo hộ không hiệu quả sáng chế trong lĩnh vực khoa học đời sống, với môi trường thực thi đầy thách thức

· Các khoảng trống trong bảo vệ bản quyền, bao gồm việc thiếu các biện pháp để giải quyết vi phạm bản quyền trên internet

· Tỷ lệ hàng giả hàng nhái cao và vi phạm quyền tràn lan trên mạng

· Việc thực thi quyền SHTT nhìn chung còn hạn chế; hình phạt chưa đủ tính răn đe, các biện pháp hành chính không hiệu quả.

2.2. Doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam

Cùng với sự hồi phục của nền kinh tế vào năm 2015, phản ánh tốc độ tăng trưởng GDP ước tính khoảng 6,68% — mức cao nhất kể từ năm 2011, ngày càng có nhiều cơ hội để bắt đầu kinh doanh ở Việt Nam. Tỷ lệ người dự định khởi sự kinh doanh ở Việt Nam vào năm 2015 là 22,3% (đứng thứ 23 trong 60 quốc gia trong danh sách GEM), cao hơn tỷ lệ 18,2% vào năm 2014. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn nhiều chỉ số trung bình của các nước đang trong cùng một giai đoạn phát triển với Việt Nam, các nền kinh tế phát triển dựa vào yếu tố nguồn lực (36,5%) (Báo cáo chỉ số khởi nghiệp toàn cầu GEM, 2015).

Biểu đồ 2: Ý định khởi sự kinh doanh theo độ tuổi ở Việt Nam năm 2015 (Đơn vị: %)

(Nguồn: Báo cáo chỉ số khởi nghiệp toàn cầu GEM, 2015)

So sánh với các nước trong khu vực ASEAN, tỷ lệ người có dự định khởi sự kinh doanh tại Việt Nam cao hơn Thái Lan (xếp thứ 31 trong số 60 quốc gia) và Malaysia (đứng thứ 57 trong số 60 quốc gia) nhưng vẫn thấp hơn Indonesia (Đứng thứ 18 trong tổng số 60 quốc gia) và Philippines (đứng thứ 9 trong tổng số 60 quốc gia). Cần biết rằng trong số 4 quốc gia ASEAN tham gia nghiên cứu GEM 2015, chỉ có Philippines được phân loại là một trong những nước đang phát triển ở giai đoạn I, là các nền kinh tế phát triển dựa vào yếu tố nguồn lực như Việt Nam, trong khi Indonesia và Thái Lan được xếp loại là một trong những nước đang phát triển Ở giai đoạn II, những nền kinh tế phát triển dựa trên hiệu quả và Malaysia ở giai đoạn III cho nền kinh tế phát triển theo hướng đổi mới. Điều này cho thấy tỷ lệ người dự định khởi sự kinh doanh ở Việt Nam trong những năm tới vẫn còn thấp, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là thông qua đào tạo nâng cao năng lực, trang bị thêm kiến ​​thức về kinh doanh cho người Việt Nam.

# Môi trường khởi nghiệp thuận lợi

Chính sách kinh doanh và thể chế pháp luật ở Việt Nam gần đây đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc khởi nghiệp. Mục tiêu của chính phủ là tăng dần số lượng công ty mới thành lập và các dịch vụ liên quan vào năm 2020 và định vị Việt Nam là “quốc gia khởi nghiệp”. Các hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh đang ngày càng phát huy nội lực ở ba trung tâm thương mại lớn của Việt Nam từ Bắc vào Nam: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, vị trí phía Nam, thành phố Hồ Chí Minh, là một trung tâm ươm mầm khởi nghiệp đặc biệt sôi nổi, giữ vai trò quan trọng trong làn sóng khởi nghiệp của cả nước. Năm 2016, thành phố đã phát động một chương trình trị giá 40 triệu Euro để hỗ trợ khởi nghiệp. Bên cạnh đó, hiệp định thương mại tự do như Việt Nam — EU đang hình thành và dự kiến sẽ làm nên chuyện trong những năm tới. Để chuẩn bị cho những thay đổi tích cực trong tương lai, Việt Nam đang thực hiện các bước quan trọng nhằm giảm bớt các rào cản thương mại để thu hút thêm sự đầu tư và thâm nhập vào thị trường.

# Những nỗ lực của địa phương với sự học hỏi và tiếp sức từ các mô hình khởi nghiệp và quỹ đầu tư nước ngoài

Hai năm qua đã cho thấy sự gia tăng mạnh mẽ của các quỹ đầu tư của địa phương, các vườn ươm, chương trình tăng tốc khởi nghiệp, và các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp khác, tất cả đề là các kinh nghiệm và các phương pháp hay nhất được học hỏi và tổng hợp từ ​​các mô hình hệ sinh thái khởi nghiệp ở nước ngoài, như Mỹ, Israel, và Phần Lan. Những trường hợp thành công, như LOZI.VN, với sự hỗ trợ quảng cáo và mở rộng ứng dụng ăn uống, là minh chứng rõ nét cho sự thay đổi này. Trên cơ sở những nỗ lực tích cực của địa phương, các tổ chức quốc tế và các nhà đầu tư đã và đang gia tăng hoạt động và đóng góp vào bối cảnh khởi nghiệp tại Việt Nam, một thị trường tiềm năng với dân số 93 triệu người, trong đó 50% số dân ở độ tuổi dưới 45 tuổi. Ngày càng có thêm nhiều các quỹ đầu tư từ Mỹ và Singapore, bao gồm 500.CO đã bắt đầu thâm nhập thị trường tại Việt Nam, đặc biệt là khi tất cả các chỉ số đều chỉ ra Việt Nam là một thị trường có tiềm năng về lâu dài.

# Thị trường tập trung phát triển công nghệ và các tính năng của công nghệ

Việt Nam đang cho thấy tiềm năng lớn về thương mại điện tử, dịch vụ internet B2B và B2C, ứng dụng di động và web, fintech, tự động hóa, và công nghệ trong nông nghiệp trong các lĩnh vực phát triển. Đáng chú ý, ít nhất 30 triệu điện thoại thông minh đang được sử dụng, và giống như​ các nước đang phát triển khác, các doanh nghiệp ở Việt Nam thường tập trung vào việc giải quyết những vấn đề cấp bách của thị trường, khiến cho môi trường khởi nghiệp càng trở nên thú vị đối với các nhà đầu tư.

2.3. Đánh giá hoạt động quản trị quyền SHTT trong doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam

Cùng với phát triển sản xuất hàng hoá, SHTT đóng một vai trò rất quan trọng trong sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp. Hiện nay, giá trị của các tài sản trí tuệ đã tăng lên nhanh chóng và đáng kể trong các doanh nghiệp, chiếm tới hơn 80% giá trị tài sản của công ty và thậm chí trên 90% như trong trường hợp của Microsoft, Disney hay Apple. Đối với các công ty khởi nghiệp, khi các tài sản hữu hình và nguồn lực còn rất hạn chế, thì tài sản lớn nhất mà doanh nghiệp có được nằm ở các tài sản vô hình. Do đó, việc thiết lập các quyền và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không chỉ giúp doanh nghiệp chống lại các hành vi gian lận của các bên khác mà còn giúp tạo ra nguồn lợi nhuận lớn.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam đã coi nhẹ việc bảo hộ tài sản trí tuệ của doanh nghiệp mình. Họ nghĩ rằng những doanh nghiệp mới khởi sự phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong việc hoàn thành các thủ tục hành chính cũng chi tiêu quá nhiều cho các hoạt động kinh doanh, như chiến lược tiếp thị, chiến lược quản trị, hệ thống nhân sự, mạng lưới kinh doanh và nguồn nhân lực. Thêm vào đó, lợi ích của việc xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ dường như còn xa vời và có vẻ không thiết yếu trước những nỗi lo thường trực hơn. Vì lý do này, ban đầu, việc thiết lập quyền sở hữu trí tuệ và đăng ký bảo hộ quyền được coi là không cần thiết. Hơn nữa, các nhà khởi nghiệp thường quan tâm đến chuyên môn, kinh doanh và chiến lược hơn là các tài sản sở hữu trí tuệ. Vấn đề này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn được nhận thấy tại phần lớn các doanh nghiệp khởi nghiệp ở nhiều nước châu Á, bởi việc sao chép ý tưởng thành công mới nhất là một phần khó tránh của thị trường.

Một số doanh nghiệp khởi nghiệp khi nhận thức được tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ thì cũng thấy rằng chi phí cho việc xác lập, thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là khá cao. Do đó, trong các mục tiêu có thể đặt ra khi doanh nghiệp xây dựng chiến lược quản trị quyền SHTT thì các doanh nghiệp khởi nghiệp thường dừng lại ở mức độ thấp nhất là để bảo vệ. Mục tiêu chính của các doanh nghiệp khởi nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc bảo vệ các thành quả sáng tạo trí tuệ, bảo đảm rằng tài sản trí tuệ của họ không bị xâm phạm, không bị sử dụng, khai thác trái phép cũng như bảo đảm rằng họ không xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể khác.

Do đó, phương thức quản trị quyền SHTT của các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam cũng chỉ dừng lại ở mức xác lập và bảo hộ quyền. Việc thương mại hóa chủ yếu do doanh nghiệp tự khai thác, chưa có nhiều hoạt động như chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền SHTT. Đặc biệt các hoạt động liên quan đến bảo hộ quyền SHTT của các doanh nghiệp khởi nghiệp còn rất hạn chế. Lý do là các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam thường thiếu nguồn lực để theo đuổi các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ kể cả khi họ nắm chắc bằng chứng về quyền sở hữu của mình do hạn chế về tài chính, nguồn nhân lực cũng như lo ngại ảnh hưởng đến hình ảnh và gây thêm khó khăn trong quá trình khởi sự kinh doanh. Trong trường hợp khi các doanh nghiệp này chưa nộp đơn xác lập quyền, các sáng tạo của họ có thể dễ dàng bị sao chép, đánh cắp hoặc ảnh hưởng bởi người khác khi sản phẩm và dịch vụ của họ được đưa ra thị trường. Điều này làm cho các doanh nghiệp khởi nghiệp khó phát triển bền vững và dễ dẫn tới phá sản, khi họ biết cách tạo ra sản phẩm trí tuệ nhưng không biết làm thế nào để bảo vệ chúng. Do đó, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ không ngừng gia tăng, không chỉ bởi các doanh nghiệp khởi nghiệp mà còn bởi các công ty lâu năm vì tầm quan trọng và lợi nhuận thu được từ các tài sản trí tuệ. Như vậy, ngoài những tầm nhìn dài hạn về mô hình kinh doanh, các doanh nghiệp khởi nghiệp cần phải có những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong các giai đoạn phát triển.

Một điểm nữa cũng cần phải lưu ý là các doanh nghiệp khởi nghiệp còn rất dễ xâm phạm quyền SHTT của các chủ thể khác mà không hề hay biết. Điều này đặc biệt dễ thấy với các đối tượng quyền tác giả. Trong quá trình quảng bá cho doanh nghiệp và sản phẩm của mình, do hạn chế về tài chính, các doanh nghiệp khởi nghiệp thường sử dụng các hình ảnh hoặc tác phẩm có sẵn trên internet mà không quan tâm hoặc không biết tác giả thực sự là ai. Nếu chỉ dừng lại là việc sử dụng cá nhân thì sẽ khó kết luận xâm phạm, nhưng đây lại là hành vi sử dụng nhằm mục đích thương mại, do đó, nếu tác giả của các tác phẩm này phát hiện ra, các doanh nghiệp có thể sẽ gặp phải những xung đột pháp lý nghiêm trọng.

Như vậy, nhận thức tầm quan trọng cũng như xây dựng chiến lược quản trị quyền SHTT mặc dù ở mức sơ khai nhất là nhằm bảo vệ tài sản của mình cũng như tránh không xâm phạm tài sản trí tuệ của những người khác là cực kỳ cần thiết và được cho thấy là mang tính sống còn đối với sự tồn tại cũng như phát triển bền vững của doanh nghiệp khởi nghiệp. Mặc dù vậy doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và hạn chế đến từ cả nội tại lẫn bên ngoài, do đó, cần phải có sự hỗ trợ và định hướng từ phía Chính phủ để giúp tăng cường hoạt động quản trị quyền SHTT cho doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới.

3. Một số giải pháp tăng cường quản trị quyền SHTT cho doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam

3.1. Về mặt chính sách vĩ mô

Chiến lược quốc gia về quản lý tài sản trí tuệ là một bộ các biện pháp cần thiết do chính phủ xây dựng và thực hiện nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho việc tạo ra, phát triển, quản lý và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có hiệu quả ở cấp quốc gia. Một chiến lược về SHTT cũng có thể được xác định, như là một văn kiện quốc gia toàn diện, trong đó phác thảo cách thức phát triển các chính sách liên quan đến sở hữu trí tuệ và việc thực hiện những phát triển này phải được thực hiện theo một cách phối hợp toàn diện trong khuôn khổ quốc gia. Mặc dù các mục tiêu cụ thể cho phát triển SHTT có thể được xác định một cách độc lập — và độc lập với các mục tiêu phát triển quốc gia và các chính sách theo ngành, một cách tiếp cận hữu ích và hiệu quả hơn là lồng ghép các mục tiêu phát triển IP vào một chiến lược quốc gia. Việc xây dụng một chiến lược quản lý quyền SHTT cụ thể có thể giúp đảm bảo rằng mục tiêu này đạt được.

Trong điều kiện làn sóng khởi nghiệp ở Việt Nam đang bắt đầu hình thành và phát triển, sự hỗ trợ từ phía nhà nước là cực kỳ quan trọng. Nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động quản trị quyền SHTT cho doanh nghiệp, nâng cao nhận thức và cung cấp các hỗ trợ liên quan đến việc xác lập, bảo hộ và quản lý quyền SHTT sẽ là những bước đầu tiên mà Chính phủ Việt Nam nên cân nhắc trong việc xây dựng chiến lược Sở hữu trí tuệ và Khởi nghiệp trong tương lai.

3.2. Doanh nghiệp khởi nghiệp

Doanh nghiệp khởi nghiệp cần phải nhận thức được tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ đối với việc phát triển kinh doanh và phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của mình. Mỗi nhà khởi nghiệp, do đó, phải nâng cao kiến ​​thức về sở hữu trí tuệ và truyền đạt sự hiểu biết của mình tới tất cả nhân viên. Sau khi nhận thức đầy đủ giá trị sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp khởi nghiệp cần ngay lập tức quyết định để đăng ký bảo hộ, đặc biệt là các sáng chế, bí quyết, biểu trưng, ​​nhãn hiệu, biểu tượng, thiết kế nhằm mục đích thiết lập quyền sở hữu, ngăn cản người khác hoặc đối thủ đăng ký trước và cạnh tranh không lành mạnh trong tương lai. Bằng cách đó, các donah nghiệp khởi nghiệp mới có thể phát triển bền vững.

Mỗi doanh nghiệp khởi nghiệp cần chủ động xây dựng chiến lược quản lý quyền sở hữu trí tuệ hoặc thuê đại diện hỗ trợ đăng ký, thành lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Khi phát hiện có vi phạm, doanh nghiệp khởi nghiệp phải biết cách bảo vệ quyền của mình theo luật (Điều 198 của Luật sở hữu trí tuệ). Sau đó, có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm bằng các biện pháp hành chính, dân sự và hình sự. Trên thực tế, khi xảy ra các tranh chấp, vấn đề thường phức tạp và doanh nghiệp khởi nghiệp không có đủ thời gian cũng như tiền bạc để theo dõi vụ kiện, vì vậy, thuê các chuyên gia chuyên nghiệp để giải quyết vụ án sẽ đảm bảo tính thực tiễn và hiệu quả cao hơn. Trên thực tế, nhiều công ty đã trải qua nhiều thập kỷ theo đuổi vụ kiện về SHTT, sau đó phải chấp nhận thất bại hoặc bị mất rất nhiều danh tiếng, uy tín, doanh số bán hàng và thời gian bởi vì họ không đăng ký quyền sở hữu trí tuệ khi bắt đầu kinh doanh. Trong một số trường hợp, họ thậm chí còn không nhận thức được tài sản trí tuệ của mình đang bị ăn cắp bởi những người khác. Vì vậy, các công ty khởi nghiệp, đặc biệt là khởi nghiệp trên nền tảng công nghệ luôn cần phải xem xét cẩn thận về chiến lược quản lý quyền SHTT. SHTT không chỉ đem tới lợi thế về cung cấp độc quyền và chi trả các chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm trước đó, nó có thể được sử dụng như một công cụ thương mại trong đàm phán hoặc tranh chấp với bên thứ ba. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khởi nghiệp đổi mới, cho dù đó là phát triển sản phẩm hay thương hiệu.

Một yêu cầu không thể thiếu đối với một doanh nghiệp khởi nghiệp đó là nhận biết và có thông tin về tất cả hình thức của SHTT, bao gồm từ quá trình đăng ký, đối tượng, yêu cầu đến thực thi quyền SHTT, nhằm bảo hộ đầy đủ và toàn diện tài sản trí tuệ của khởi nghiệp. Từ đó, nhận ra được tài sản trí tuệ của mình có thể và nên được bảo hộ theo hình thức nào và trong giai đoạn nào của quá trình phát triển là phù hợp và hiệu quả hơn cả.

Trước khi đăng ký bất kỳ hình thức SHTT nào, điều quan trọng là đảm bảo rằng nó không vi phạm bất kỳ quyền SHTT đang tồn tại. Điều này có thể được thực hiện bằng cách thực hiện tìm kiếm trên danh mục bằng sáng chế, tìm kiếm công khai về nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp.

Để xây dựng chiến lược sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp khởi nghiệp phải đặt ra cho mình các câu hỏi thiết yếu như sau:

• Doanh nghiệp khởi nghiệp có muốn thiết lập sự độc quyền, nghĩa là loại trừ tất cả các đối thủ cạnh tranh của mình?

• Mặt khác, doanh nghiệp khởi nghiệp có muốn tăng doanh thu từ lợi nhuận chuyển giao công nghệ hoặc vị thế đàm phán để tiếp cận với công nghệ của bên thứ ba không?

• Doanh nghiệp khởi nghiệp có muốn gọi vốn hoặc thậm chí bán doanh nghiệp dựa trên nền tảng đổi mới phát triển?

Nếu câu trả lời cho một trong những điều này là khẳng định, thì chiến lược SHTT cho doanh nghiệp khởi nghiệp nên được xây dựng.

Việc xây dựng một chiến lược về SHTT luôn cho phép một doanh nghiệp hợp lý hóa việc bảo hộ những đổi mới của họ. Thời gian và tiền lực cần phải được đầu tư để đảm bảo quyền SHTT của một doanh nghiệp được bảo vệ chống lại những người vi phạm tiềm ẩn. Điều này đặc biệt cần thiết cho việc khởi nghiệp nếu muốn tăng sự tín nhiệm của mình trên thị trường. Một chiến lược về quyền sở hữu trí tuệ là cần thiết để xác định xem tài sản trí tuệ phải được bảo vệ hay không. Tuy nhiên, không phải tất cả các tài sản trí tuệ đều đáng được bảo vệ. Ví dụ, một số sáng chế có thể không khả thi về mặt thương mại. Đối với những sáng chế như vậy, chiến lược giữ bí mật được xem là tốt hơn việc bỏ tiền vào việc đăng ký sáng chế. Một chiến lược SHTT tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong việc đưa ra những quyết định như vậy.

Đôi khi, các công ty mới khởi nghiệp, trong trường hợp mô tả sản phẩm hoặc khi kêu gọi vốn đầu tư có thể tiết lộ quá nhiều thông tin về sản phẩm. Quá nhiều đến mức quá trình xây dựng đằng sau sản phẩm trở thành tri thức công cộng hoặc các thông tin quan trọng về sản phẩm có thể bị tiết lộ và bị các đối tượng khác sử dụng. Trong trường hợp này, sản phẩm không thể được cấp bằng sáng chế hoặc không đủ điều kiện được bảo hộ hoặc bị các đối tượng khác đăng ký mất. Do đó, điều quan trọng là các công ty mới thành lập phải kiểm soát được số lượng thông tin doanh nghiệp tiết lộ.

Ở mức bảo hộ thấp, chiến lược quản lý SHTT cần phải được khởi động bằng việc xây dựng danh mục tài sản trí tuệ của công ty. Ngay cả khi một công ty phát triển trên nền tảng kỹ thuật chưa bao giờ nộp đơn xin cấp bằng sáng chế thì có khả năng có một số lượng lớn tài sản trí tuệ không được khai thác đã và đang được bảo hộ. Việc kiểm tra có thể đơn giản được thiết lập để xem đã có những quyền SHTT nào đã được đăng ký bởi công ty và những phát triển mang tính cơ sở nào có thể bảo hộ bằng sáng chế. Một cách đơn giản để tạo điều kiện thuận lợi cho việc này là dành cho buổi họp rà soát, trao đổi giữa các cấp dưới sự cố vấn bởi một luật sư bằng sáng chế hoặc người quản lý kỹ thuật.

Một quy trình hình thành quyền SHTT sau đó có thể được thiết lập, sắp xếp các khái niệm đã có trong kinh doanh và cung cấp khuôn khổ để nắm bắt các khái niệm trong tương lai khi chúng được đưa ra. Các chìa khóa chính cho chiến lược này thành công là giáo dục, quản trị và tỷ lệ phân bổ nguồn lực. Giáo dục là điều cần thiết để đảm bảo rằng những người tạo ra sự đổi mới trong doanh nghiệp khởi nghiệp nhận thức đầy đủ về SHTT từ cách xác định tài sản trí tuệ được bảo vệ và các hệ thống trong công ty của họ để thực hiện các bước cần thiết để có được sự bảo hộ. Ở cấp độ hành chính, công ty phải có cá nhân có nhiệm vụ phối hợp với các nhà sáng chế, đảm bảo rằng thông tin được lưu giữ theo cách có thể tiếp cận và tái sản xuất và liên lạc với các cố vấn bằng sáng chế bên ngoài. Một công ty có bộ phận kỹ thuật nhỏ sẽ không muốn hỗ trợ một hệ thống truy cập tài sản trí tuệ phức tạp. Mặt khác, các phòng ban lớn có thể yêu cầu một hệ thống chi tiết hơn, có thể dựa trên mạng nội bộ của công ty.

Tăng trưởng danh mục đầu tư nói chung phải được quản lý cẩn thận vì việc mua bán tài sản SHTT có thể làm tăng số lượng quyền và tăng chi phí. Liên lạc với nhân viên thương mại là điều kiện cần thiết để đảm bảo rằng quyền SHTT được duy trì, hoặc bị từ bỏ, tùy thuộc vào tầm quan trọng của nó đối với việc kinh doanh. Cuối cùng chức năng của SHTT có thể phát triển đến một mức độ mà khi đó nó sẽ tiết kiệm chi phí cho chủ doanh nghiệp khi thuê chuyên gia trong công ty hơn là gia công phần mềm bên ngoài.

Mặt khác, doanh nghiệp khởi nghiệp cũng cần lưu ý rằng việc tạo ra một danh mục đầu tư SHTT toàn diện có thể là một khoản đầu tư đáng kể. Điều này đặc biệt đúng đối với các bằng sáng chế. Do đó, doanh nghiệp khởi nghiệp cần phải đánh giá một cách cẩn thận chi phí và lợi ích của việc cấp bằng sáng chế cho từng trường hợp cụ thể và xây dựng một chiến lược/chính sách về việc mua lại bằng sáng chế, phù hợp với ngân sách và các cơ hội thị trường.

Như vậy, có thể thấy rằng quản trị quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề còn mới mẻ ở Việt Nam đặc biệt đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp. Với thực tế là hơn 80% tài sản của các doanh nghiệp khởi nghiệp nằm ở giá trị vô hình, việc nhận thức và xây dựng chiến lược quản trị quyền sở hữu trí tuệ phù hợp mang tính quyết định đối với sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp. Mặc dù vậy do có nhiều khó khăn và hạn chế đến từ bên trong và bên ngoài nên hoạt động quản trị quyền SHTT vẫn còn rất hạn chế tại các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam. Để có thể tăng cường hoạt động này trong tương lai, cần phải có sự hỗ trợ và định hướng từ Chính phủ. Về phía doanh nghiệp, nhận thức được tầm quan trọng của tài sản trí tuệ rồi từ đó tìm cách bảo vệ các tài sản trí tuệ do mình sở hữu có lẽ là bước đầu tiên, quan trọng và cũng phù hợp nhất với tất cả các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Julie Davis và Suzanne Harrison, Edison in the Boardroom: How Leading Companies Realize Value from Their Intellectual Assets, John Wiley & Sons publication, 2002.

2. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, 2009.

3. Global Intellectual Property Center, The roots of Innovation, 2017.

4. Spruson, D. & Ferguson, N., Intellectual property management: A practical guide for electrical and Electronics related industries, Australian Government Initiative, 2007.

5. VCCI, Báo cáo chỉ số khởi nghiệp toàn cầu GEM, 2015.

6. WIPO, IP Management online Course, Module I Intellectual Property Management: Introduction and Overview, 2014.

http://www.doanhnhansaigon.vn/khoi-nghiep/nhin-lai-toan-canh-startup-viet-nam-2016/1102515/