Introduction 2 Design Thinking
Design Thingking (Tư duy thiết kế) là một quy trình, một cách tiếp cận nhằm giúp tạo ra giải pháp để giải quyết một bài toán nào đó. Giải pháp này có thể là một sản phẩm, một mô hình kinh doanh, một dự án xã hội, hay một quy trình làm việc mới. Phương pháp này được phát triển trong vòng 60 năm trở lại đây, và dần dần được hoàn thiện bởi nhiều cá nhân và tổ chức. Hiện nay Design Thinking trở thành một môn học được giảng dạy tại các trường ĐH hàng đầu thế giới như MIT, Standfor, Harvard, và được áp dụng chính thức tại nhiều công ty lớn, bao gồm IBM, Apple hay Google. Không chỉ được áp dụng rộng rãi nhằm giúp tìm ra các giải pháp trong lĩnh vực công nghệ phần mềm, quy trình thiết kế giải pháp của Design Thinking còn được áp dụng phổ biến trong các dự án xã hội, các tổ chức phi chính phủ.
Design thinking là gì?
Có bao giờ bạn tự hỏi, các sản phẩm, sáng kiến mới được tạo ra như thế nào? Điều gì đã xảy ra khi người ta phát minh ra chiếc ô tô đầu tiên, máy xay sinh tố đầu tiên? Hệ điều hành, ứng dụng đặt xe, Tiktok, Instagram v.v và tất cả các phần mềm mới ngày nay đã được phát triển như thế nào?
Khi đối mặt với một vấn đề, con người có xu hướng nghĩ ngay ra 1 giải pháp nào đó. Ví dụ, khi con bạn hư, điều đầu tiên bạn nghĩ đến là đánh chúng mà không phải thiết kế một phương pháp giáo dục mới như Montesori. Khi nhân viên đi làm trễ, chúng ta có xu hướng nghĩ đến việc đưa ra nội quy, thay vì nghĩ đến một cấu trúc tổ chức hay quy trình phối hợp công việc mới như Holacracy. Về cơ bản, kỹ năng sáng tạo, thiết kế dường như là độc quyền của 1 nhóm người thiểu số: Các nhà phát minh, nghệ sĩ….
Phương pháp Design Thinking ngày nay là sự kết hợp của rất nhiều các kỹ thuật thiết kế được tích lũy trong gần nửa thế kỷ, các kỹ thuật này bao gồm kỹ thuật phỏng vấn người dùng, kỹ thuật động não, kỹ thuật phân tích vấn đề, kỹ thuật thiết kế mô hình v.v Design Thinking đã giúp việc thiết kế giải pháp trở thành một kỹ thuật có thể được truyền lại, và áp dụng rộng rãi trong cộng đồng.
Có hai cách chính trong việc thiết kế 1 giải pháp, cách thứ 1 là bằng trực giác. Phương pháp trực giác được áp dụng bởi tất cả chúng ta, có một số người có trực giác tốt hơn những người khác, họ thường là các founder thành công. Não bộ hoạt động theo 1 cơ chế hiệu quả, giúp họ lựa chọn được hướng đi chính xác trong số hàng trăm các ý tưởng nảy ra trong đầu họ. Cách thứ 2, khoa học hơn, là các phương pháp quy nạp và diễn dịch. Các nhà khoa học, các công ty nghiên cứu thị trường thường áp dụng phương pháp này, giải pháp tìm được thường là kết quả của quá trình thử sai tất cả các biến số, và quan sát quy luật.
Design Thinking là phương pháp kết hợp giữa trực giác và khoa học. Phương pháp này đặt trọng tâm vào việc phát triển các giải pháp bằng kỹ thuật động não, nhưng dựa trên cơ sở của sự thấu cảm về người dùng (đối tượng sử dụng giải pháp của chúng ta). Design Thinking là một quá trình từ từ, nhóm thiết kế liên tục đưa ra các câu hỏi, thách thức các kiến thức và các giả thiết hiện có, mở rộng vấn đề rồi lại thu hẹp chúng. Điểm mấu chốt ở đây là nhóm thiết kế không bị bám dính vào một vấn đề hay giải pháp cụ thể, mà họ luôn tin rằng giải pháp tốt chỉ có thể xuất hiện bởi một quá trình thách thức và kiểm chứng liên tục. Vấn đề ban đầu chỉ là một điểm xuất phát, không phải là kết luận cuối cùng, thay vào đó các nhà thiết kế tìm tòi và đào sâu vào các vấn đề nằm sâu dưới đáy của người dùng. Giải pháp chỉ bắt đầu được cân nhắc sau khi nhóm thiết kế đã thực sự hiểu và thấu cảm với những vấn đề của người dùng. Và kể cả khi đã “hiểu” về người dùng, nhóm cũng sẽ bắt đầu với việc xây dựng một danh sách dài các giải pháp khả thi trước khi bắt tay vào làm các mô hình kiểm thử với 1 phương án khả thi nhất.
Quá trình này gọi là Design Thinking
Tại sao phải sử dụng Design Thinking
Design Thinking đặc biệt hiệu quả khi áp dụng trong việc giải quyết các “wicked problem”. Đây là kiểu vấn đề mà bạn không thực sự hiểu rõ, chính vì thế chúng cũng không có một giải pháp sẵn có. Chiếc điện thoại di động đầu tiên có thể là kết quả của việc giải quyết bài toán “Làm sao để có thể gọi điện khi tôi đang ở ngoài đường?”, nhưng một trạm điện thoại công cộng cũng có thể giải quyết được bài toán này. Ý tưởng hay có thể đến từ 1 trực giác tốt, nhưng một sản phẩm thành công được người dùng đón nhận cần một quy trình thiết kế hiệu quả.
Các nhà phát minh có thể tạo ra nhiều thứ sáng tạo và hữu dụng với trực giác của họ. Nhưng các nhà thiết kế chuyên nghiệp phải đối mặt với các bài toán mới mỗi ngày, họ cần một phương pháp có thể giúp họ lặp đi lặp lại việc thiết kế ra một giải pháp mới. Chúng ta có thể nghĩ ra một ý tưởng thú vị nào đó, 1 ý tưởng tiềm năng để có thể trở thành một phát minh mới, một sản phẩm mới. Nhưng nếu muốn trở thành một nhà thiết kế, chúng ta cần một phương pháp cụ thể.
Design Thinking đôi khi bị chỉ trích là đã quá đơn giản hóa công việc thiết kế, và làm hạ thấp vai trò của các kiến thức khoa học, và tài năng thiên bẩm. Có lẽ vậy, nhưng không thể phủ nhận là Design Thinking đã giúp ích rất nhiều cho công việc của các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, nơi mà nhu cầu về các ý tưởng mới, các giải pháp mới, tính năng mới trở thành một phần không thể thiếu trong hoạt động của các tổ chức.
Cuối cùng, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam ngày nay vẫn chưa có một quy trình phát triển sản phẩm thực sự. Tạo ra các sản phẩm mới là đặc quyền của các CEO, CPO, CTO, của các quản lý dự án — những người sở hữu ý tưởng, được trả lương cao và thường được coi là thông minh và am hiểu hơn các đồng nghiệp. Design Thinking giúp cho việc phát triển sản phẩm trở thành một quy trình chuyên nghiệp hơn, bài bản hơn, ít dựa vào trực giác của 1 số ít người xuất chúng, kết quả là tổ chức của bạn trở nên thông minh và hiệu quả hơn trong việc đưa ra các cải tiến mới cho sản phẩm của mình
Năm giai đoạn chính của Design Thinking
Có nhiều phiên bản khác nhau, Design Thinking có thể bị chia thành từ 3 đến 7 bước khác nhau. Mặc dù vậy, về bản chất, chúng hoàn toàn tương đương nhau. Phiên bản phổ biến nhất là phiên bản 5 giai đoạn do trường Standford đề xuất:
Empathy (Thấu hiểu)
Tìm hiểu về người dùng, thu thập thông tin về vấn đề
Define Problem (Xác định vấn đề)
Phân tích dữ liệu nhằm xác định nhu cầu của người dùng, vấn đề của người dùng, và tổng hợp thành các hiểu biết của mình về họ (insight)
Ideate (Sáng tạo)
Đưa ra các ý tưởng nhằm giải quyết vấn đề
Prototype (Xây dựng mô hình)
Bắt tay vào triển khai các phiên bản mô phỏng, dùng thử, tinh gọn của giải pháp
Test (Kiểm chứng)
Đưa giải pháp tới cho người dùng và đánh giá hiệu quả của giải pháp
Tại Thinkzone, chúng tôi đề xuất thêm một bước nữa, gọi là bước số 0. Đây là kết quả của quá trình giảng dạy Design Thinking với các startup, chúng tôi nhận ra là phần lớn mọi người đều gặp khó khăn ngay từ ban đầu khi không biết nên áp dụng Design Thinking khi nào, để giải quyết vấn đề gì
Bước 0: Defince Challenge (Xác định thách thức)
Làm rõ kỳ vọng, mục tiêu của nhóm thiết kế. Xác định đề bài/ thách thức, lý do mà nhóm thiết kế được thành lập.
Mô hình Double Diamond
Double Diamond đầu tiên được đưa ra bởi British Design Council. Đây là một phương pháp để tóm tắt tư tưởng/ quy trình cốt lõi của Design Thinking. Google với từ khóa “Double Diamond Design Process” sẽ cho ra rất nhiều phiên bản khác nhau của mô hình này. Double Diamond mô tả diễn biến của quá trình phát triển giải pháp của Design Thinking qua 4 giai đoạn.
Pha vấn đề
1.1 Mở rộng
Discover: Đào sâu các thông tin về người dùng và vấn đề của họ để mở rộng hiểu biết
1.2 Thu hẹp
Define: Thu gọn bài toán thông qua việc tìm kiếm các điểm chung, xác định vấn đề cốt lõi
Pha giải pháp
2.1 Mở rộng
Develop: Tìm kiếm các giải pháp khác nhau có khả năng giải quyết vấn đề
2.2 Thu hẹp
Deliver: Chọn lựa và xây dựng giải pháp cụ thể
Divergent (Mở rộng) và Convergent (Thu hẹp) là hai quy trình lặp đi lặp lại trong Design Thinking, bằng việc mở rộng rồi lại thu hẹp vấn đề, các nhà phát triển dần dần tìm kiếm được giải pháp chính xác cho vấn đề mà họ cần giải quyết
Lịch sử của Design Thinking
Thuật ngữ “Design Thinking” được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1959, tuy nhiên các kỹ thuật thiết kế mà nó áp dụng đã được phát triển từ đầu những năm 1950.
Người đặt viên gạch quan trọng cho sự hình thành của phương pháp này là Herbert A. Simon. Ông là người đoạt giải Nobel về Kinh tế dù rằng ông không phải là nhà Kinh tế học. Giải Nobel được trao choo đóng góp của ông vào việc phân tích hành vi của người tiêu dùng sử dụng các kiến thức của tâm lý học. Simon bên cạnh là một nhà tâm lý học, còn là một trong những chuyên gia đầu tiên về khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là các nghiên cứu của ông lý giải về tư duy nhận thức của con người. Năm 1969, trong cuốn “The sciences of the Artificial (Khoa học vệ trí tuệ nhân tạo), ông đã đưa ra 1 quy trình 8 bước, mô tả cách 1 con người đưa ra các giải pháp sáng tạo. Ngày nay Design Thinking phổ biến với quy trình 5 bước, tuy vậy hoàn toàn tương tự với 8 bước mà Simon đã đề xuất,
Design Thinking bắt đầu được dạy tại Standford năm 1980. Năm 1991 thì IDEO ra đời, bởi 1 giáo sư Standford là David M. Kelly. IDEO là hãng tư vấn thiết kế đặt nền móng cho sự phổ biến của Design Thinking trên toàn thế giới. Công ty này đã sử dụng Design Thinking như 1 phương chính yếu để thiết kế bàn chải đánh răng, phần mềm, thiết bị điện tử, xe đẩy hàng, lớp học, các dự án nước sạch … IDEO là công ty đã thiết kế ra con chuột máy tính đầu tiên của Apple, công ty cũng được xuất hiện trong 1 chương trình thực tế của đài ABC mang tên The Deep Dive: One Company’s Secret Weapon for Innovation, quay lại 1 hành trình 5 ngày thiết kế, và kết quả cuối cùng là 1 chiếc xe đẩy mua hàng mới với nhiều cải tiến đã ra đời. Chương trình đã dẫn đến 1 trào lưu mới trong việc áp dụng Design Thinking tại rất nhiều các tổ chức và trường đại học.
Đến năm 2005, Design Thinking chính thức trở thành 1 khóa học được giảng dạy tại Standford, kể từ đó Design Thinking dần dần trở thành một phương pháp phổ biến được giảng dạy tại các trường ĐH, áp dụng tại các công ty tập đoàn lớn trên toàn thế giới.
Hoàng Đức Minh
