Đi chùa

Giờ mới nhớ ra cái account thứ hai này.

Từ nhỏ đến lớn, tôi luôn là người theo chủ nghĩa vô thần — chỉ thờ phụng tổ tiên và đi chùa với mục đích thanh thản, chứ thực ra cũng không quá tin tưởng vào tiên, phật, thánh, thần cho lắm.

Lúc chuyển ra nhà ở hiện tại mới được vài tháng, tôi bị bóng đè, mơ rằng có kẻ lèn chặt lấy tay chân, úp chăn vào mặt cho ngạt thở. Vùng vằng hãi hùng mấy phút mới bật dậy hét lên, túm lấy họng mà thở hồng hộc. Sau tối hôm đó, mẹ tôi cho con dao, dặn để dưới đệm trừ tà. Nhưng vì quá sợ nên tôi để ngay dưới gối nằm, tối nào cũng phải sờ thấy cái lưỡi sắc nhọn của nó mới dám tắt đèn, nửa đêm xuống nhà uống nước mang theo, tay cầm cốc, tay lăm lăm con dao. Có lần mẹ tôi nhìn thấy, hoảng cả hồn.

Tôi biết khá nhiều người đã từng hay thường xuyên gặp chuyện ma quỷ. Vì thế tuy không có nhiều niềm tin vào thánh thần, tôi lại tin và sợ ma thành thói quen. Để dao dưới gối là tránh quỷ, cầm dao theo mình, ừm, là phòng người.

Mười mấy năm cuộc đời đi vào chùa làng chỉ vì đó là con đường tắt đến lớp học thêm, ấy vậy mà từ ngày lên đại học, tôi lại có hơi mê tín một chút, có lẽ là ảnh hưởng từ người xung quanh phần nhiều. Phần khác, đương nhiên là vì không nơi nào khiến tôi cảm thấy thanh thản như ở chùa.

Và hiện giờ, tôi lại thích đi chùa vào mỗi tối thứ tư, để nghe đọc và niệm Kinh Phật, ngồi thiền, tập khí công…

Nghe thì có vẻ to tát, nhưng tôi cũng chỉ mới đi được vài buổi. Đó là một ngôi chùa trên đường Thụy Phương, nhỏ bé, lẩn khuất, xa nhưng chẳng vắng. Mỗi tối thứ tư, người ngồi kín cả chính điện, nệm cao su được xếp đều đặn thành hàng, đằng trước là một bài kinh được phô tô. Dù là bản phô tô, cũng không được dạng chân bước thẳng qua hay đặt xuống đất lạnh, mà phải đi né sang một bên và lót bằng vải vuông xếp ngay ngắn.

Người ở đó rất đáng yêu. Họ không phải sư thầy, chỉ là những người theo đạo Phật, mặc bộ đồ nâu hoặc xanh xám giản dị như những bà, những cô thường đi chùa niệm kinh hay mặc. Họ không xưng hô lung tung, chẳng gọi “anh”, “chị” hay “em”, mà kêu “huynh”, “đệ”, “tỉ” và “muội”. Đó là những người trẻ, còn người già thì đương nhiên phải gọi các cô, các bác rồi.

Có lẽ sẽ rất khó để tìm được những người như họ — ở khắp nơi, mọi vùng miền, phần lớn là những cô, cậu sinh viên từ quê lên học, có những người phải đi rất xa mới tới đây, chỉ để ngồi hơn ba tiếng đồng hồ nghe đọc kinh một cách thành kính. Họ sẽ hát những bài ca, niệm theo lời người đọc kinh, vái những vái thật dài khi nghe thấy tiếng chuông gõ kêu đinh đang, chạm vầng trán xuống đất lạnh hay tập bài đặt trên vuông vải đỏ. Đầu tiên, đưa bàn tay lên trước mặt, ngón tay không vượt quá đầu, sau đó đưa xuống ngực, rồi khom người dập đầu, cuối cùng vái ba vái… Cứ như vậy.

Họ hỏi han nhau rất ân cần và vui vẻ. Sẽ luôn có người trực ở cổng chùa rọi đèn và trông xe vì đường nhỏ tối đen và cổng lại không thể đóng. Gặp nhau, họ liền chắp tay “chào tỷ”, chẳng biết đối phương lớn hay nhỏ tuổi hơn mình, đợi đến khi tôi, vì tay đương giữ xe nên không thể chắp, chào một tiếng “huynh” mới gọi lại bằng “muội”.

Cảm giác mọi thứ đều chậm hẳn rồi ngừng bặt, dẫu kim đồng hồ vẫn xoay nhanh như chảo chớp. Tôi quỳ đứng trên nệm ấm, hai bàn chân đặt chéo lên nhau, lưng thẳng, loay hoay với bản kinh trên tay, không biết vừa cầm vừa vái lạy sao cho đúng mực, miệng lẩm nhẩm đọc theo mọi người, hòa âm vào khúc hát đầy thành kính. Tôi mặc quần bò nên không thể bắt cả hai chân mà ngồi thiền cho chuẩn kiểu, chỉ khoanh lại, thẳng lưng, khum tay trái đặt chồng lên phải, ngón cái chạm hờ, mắt nhìn xuống, và im lặng. Xung quanh là gió lạnh rít gào ngoài khung cửa gỗ, và tiếng hít thở nhẹ nhàng của những con người mang đầy tâm thiện.

Việc đi chùa của tôi thường bị gián đoạn, vì tôi không biết giải thích với mẹ sao để bà thấu hiểu, hay do trời mưa hoặc kỳ thi đang rục rịch tới. Lần gần nhất tôi đến, giữa tiết trời sương giá lạnh, mọi người cùng tập khí công trong chính điện. Vì mặc nhiều áo nên động tác của tôi hơi gượng, nhưng cái cảm giác nhồi căng lồng ngực mùi nhang vấn vít và cả khung cảnh thanh tịnh đó, dường như là thứ sẽ khiến con người nghiện đến hết cuộc đời.

Nghe thì có vẻ rất cổ xưa, nhưng sau mỗi buổi như vậy, mọi người sẽ ngồi quây lại, hướng lên mảng tường trắng nhìn máy chiếu rọi những bài hát hoặc câu chuyện về đức phật Thích Ca. Hay như vừa ra Tết, họ sẽ lì xì những đồng tiền may mắn đặt cạnh lời chúc ấm áp, tất cả nhét trong thiệp nhiều màu đã được đượm hương nhang đèn và thấm nhuần lời niệm kinh của sư thầy. Và những cô cậu sinh viên đó sẽ hát, quan họ Bắc Ninh, những bài hát của đạo Phật — là gì tôi không còn nhớ tên nữa, bằng giọng hát trong veo như nước, hay chỉ đơn giản là hát cho mọi người vui vẻ.

Thấy tôi phải về sớm, họ sẽ cố gắng níu giữ lại, chỉ để phát thiệp và vỗ tay chung vui hát với mọi người. Họ khuyên rất nhỏ nhẹ, lễ phép, dù tôi là bề ít tuổi hơn, đơn giản chỉ là họ chân thành, và lòng chân thành của họ khiến tôi chẳng thể, mà cũng chẳng muốn từ chối.

Dắt xe ra đến cổng, người trực sẽ chắp tay chào, nụ cười của họ hòa trong bóng đêm những ngày mất điện. Và tôi trở về với thế giới thực, và tất cả tựa như một giấc mơ…

Và tôi thấy mình sùng kính tiên, phật, thánh, thần, vì tôi cảm nhận được tình thương của họ ban xuống vạn vật chúng sinh, xuống những người con trong chính điện, xuống tôi và xuống cả những người mà tôi yêu quý..

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

— — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — —

Hà Nội mười sáu, mưa nhỏ từng giọt chảy dài trên khung cửa kính…

Một câu chuyện mà vẫn sẽ được viết tiếp…

Một kỷ niệm mà vẫn sẽ được trải nghiệm tiếp…

One clap, two clap, three clap, forty?

By clapping more or less, you can signal to us which stories really stand out.